| Home  | Tiểu Sử HHC | Thả Gió Bay Đi | Mục Lục | Từ Thơ Đến Nhạc |
HHC - Nhánh Nhỏ Giao Cảm | Thơ Ghé 1 Chân | Hot Links  |

| English | Audio & Video | Dịch Mậu Binh | Thơ Chuyển Ngữ | Suối Thơ |
|
Góc Thơ HHCTác Phẩm HHC Thơ Mậu Binh |  Trang Đặc Biệt | Thư Tín  |


 HHC

 
 
Ha Huyen Chi
 Mau Binh
Số
Phác Thảo Bộ Phim Văn Sử
Con Tiên Cháu Rồng
Mời vào trang

Mục Lục Thơ Mậu Binh ABC

Mục Lục Thơ Mậu Binh Theo Từng Tập

 

hahuyenchi

 
SHARPENING THE SWORD ON THE SIDELINES

 

Bên Trời Mài Kiếm  
 
Poems by Hà Huyền Chi
Translated by Ngô Ðình Chương
Edited and introduced by Ðàm Trung Pháp

cung tên

1 9 9 8

Bên trời mài kiếm nung hồn nước
Giữ lại chinh bào hẹn núi sông
In exile, sharpening the old sword to keep alive the national hurt
Clutching the old soldier¢s fatigues to await a day to come back

 

Sharpening The Sword On The Sidelines (Bên Trời Mài Kiếm) ở Thi tập thứ 15 của Hà Huyền Chi . Chuyển ngữ: Ngô Ðình Chương . Hiệu đính, đề tựa: Ðàm Trung Pháp . Trình bầy: Giang Nguyên . Tranh bià: Ðinh Cường . Phụ bản: Mùi Quý Bồng, Ðại Giang, Hương Kiều Loan . Ấn cảo: Anh Vân . Nhạc: Duyên Anh . Hoàng Linh Duy . Phạm Duy . Liên Bình Ðịnh . Vy Hùng . Hồng Lĩnh . Trần Quan Long . Song Ngọc . Hà Thùc Sinh . Ngu Yên . Cung Tên xuất bản . In lần thứ nhất 1000 cuốn . Bản quyền thuộc về Hà Huyền Chi . Một Chín Chín Tám .

Copyright by: Hà Huyền Chi . Ðồng Tâm phát hành . Ðại diện liên lạc: Ðặng Trí Hoàn 7613 S.E. 50th Avenue LACEY, WA 98513 USA

 

Hà Huyền Chi

Tên thật là Ðặng Trí Hoàn, sinh quán Hà Ðông, 1935, trưởng thành tại Hà Nội. 1954 di cư vào Nam, một mình. 1957 nhập ngũ, khóa 14 VBQGVN. 1975 đào thoát qua Hoa Kỳ. Tác phẩm đầu tay: “Saut” Ðêm, thơ 1963. Ðã in 17 tập thơ, 8 truyện dài.

Hà Huyền Chi

Ha Huyen Chi’s real name is Dang Tri Hoan. He was born in 1935 in Ha Dong and grew up in Ha Noi. He immigrated to South Vietnam alone in 1954, joined the 14th promotion of the Vietnamese National Military Academy in 1957, and escaped to the USA in 1975 after the fall of Saigon. Ha Huyen Chi has published 17 poetry selections and 8 novels. 

Ngô Ðình Chương

Sinh 1933, Ðại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình, lớn lên ở Huế. Phục vụ cho chính phủ Quốc Gia từ 1955 đến 1975. Ðã hết mình, không phải phe nhóm “Tôi làm tôi mất nước” (sic). Ðãợ xuất bản một số văn, thơ ở hải ngoại.

Ngô Ðình Chương

Ngo Dinh Chuong was born in 1933 in Quang Binh Province and grew up in Hue. From 1955 to 1975, he served  the government of  the Republic of  South Vietnam wholeheartedly, and never  belonged to the clique that ruined the country and lost it to the communists. He  has published some poems and novels abroad.

Ðàm Trung Pháp

 

Ðàm Trung-Pháp hiện dạy ngôn ngữ học cho các ban cao học và tiến sĩ văn khoa tại Viện Ðại Học Texas tại Dallas và điều khiển một chương trình giảng huấn 11 ngoại ngữ (trong đó có tiếng Việt) cho hơn 25.000 học sinh trong Khu Học Chánh Ðộc Lập Dallas. Giáo sư Ðàm cũng từng là cố vấn về giáo dục đa văn hóa và phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cho nhiều nhà xuất bản sách giáo khoa Hoa Kỳ.

Ðàm Trung Pháp
 

Dam Trung Phap teaches linguistics to graduate students in the School of Arts and Humanities of the University of Texas at Dallas and directs an instructional program of 11 world languages  (including Vietnamese) for over 25,000 students in the Dallas Independent School District. Professor Dam has also served as a consultant on multicultural education and language pedagogy for numerous American text-book publishers.

 

Vào Tập
Cùng quý bạn yêu thơ Hà Huyền Chi,
Sau khi thoáng đọc vài bài trong tập Bên Trời Mài Kiếm (BTMK) mà Hà Huyền Chi (HHC) trao tôi để tôi nhuận sắc các bài dịch sang Anh ngữ và viết đôi lời giới thiệu, tôi đã nghĩ ngay rằng nhà thơ này mang một căn bệnh nhớ nhà trầm kha. Mới đây, khi đọc bài Lê Tạo phỏng vấn HHC trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật Internet, tôi mỉm cười thú vị vì đã được nghe chính HHC xác nhận điều đó: “Hình như tôi (HHC) có cuống nhau liền với cuống tim, nên khi phải sống xa quê là một hình phạt khủng khiếp nhất với tôi. Kinh nghiệm xa quê lần đàu, hồi 1962, chàng còn là trung úy, độc thân, cầy cục mãi mới xin được một chỗ du học ở Okinawa. Vậy mà khi máy bay chưa qua khỏi không phận Việt Nam chàng đã ướt mi, đã chỉ muốn quay về lập tức.”
Tôi mến câu tâm sự thành thực và dễ thương ấy của HHC lắm, vì chàng cũng đã nói dùm nỗi lòng của tôi năm 1959 khi máy bay vừa cất cánh đưa tôi sang Hoa Kỳ du học. Ðấy là còn biết sau khi du học mình còn có quê hương mà trở lại, huống hồ khi thua trận mất nước phải bỏ chạy quê hương không hy vọng trở về thì cái hình phạt ấy nó sẽ gia tăng lên bao nhiêu lần! Ðối với người Mỹ, cái gì cũng có thể là một đề tài cho họ nghiên cứu,cho nên tâm trạng của những kẻ tỵ nạn chính trị chúng ta khi chúng ta cố gắng đáp ứng với hoàn cảnh mới đã được họ quan sát kỹ càng. Theo họ, đó là một tiến trình tâm lý đau khổ và phức tạp, thường gồm các giai đoạn (1) hân hoan cực kỳ như vừa chết được sống lại (euphoria), (2) xung đột văn hóa và ngôn ngữ (culture and language shock), (3) lấy lại được quân bình (stability), và (4) hòa mình vào cuộc sống mới (acculturation). Giai đoạn (1) ngắn lắm, không đáng kể, nhưng giai đoạn (2) là cả một trời khổ nạn! Nó lâu hay mau là tùy ở từng người: càng lớn tuổi càng khổ lâu, và càng ướt át con tim như các văn nghệ sĩ đa tình thì lại càng đau lòng triền miên hơn ai hết. Vì thế tôi không lấy làm lạ cho lắm khi HHC nói chuyện tiếp trong cuộc phỏng vấn nêu trên, sau khi đã lưu vong hơn hai chục năm trời, về tâm trạng mình lúc viết bài Cõi Buồn Trên Ta năm 1984 như “một tâm trạng ứa mật bầm gan trong tủi hận nước mất nhà tan, cùng nỗi đau chiến bại. Cho đến bây giờ nỗi buồn vẫn còn đó, đã tan trong máu, đã thấm vào xương, như một mầm bệnh ung thư bất trị. Con bịnh phải tập quen với căn bệnh nan y, khi lên cơn bung phá, lúc lắng dịu đau ngầm.” Theo tôi, cái tâm trạng đau buồn triền miên ấy đã được thổ lộ rất thành thực trong tập BTMK mà quý bạn đang có trong tay. Và cái đẹp nhất trong BTMK cũng chính là lòng thành của HHC gửi gấm trong thơ, vang vọng từ một cõi tâm linh rất riêng biệt, rất xa cách với môi trường xã hội mới (encapsulation).
 
HHC thành tâm với cả cách sử dụng ngôn từ nữa, cho nên nhà thơ luôn luôn thận trọng lựa chọn những từ ngữ chân phương, chính xác và đắc vị, trong cả hai ngôn ngữ uyên bác lẫn bình dân. HHC không làm dáng với ngôn ngữ, và tôi cũng không thấy HHC lạm dụng “đặc quyền của thi ca” (poetic license) . Phải nói đó là một ưu điểm rất đáng kể, vì cái “đặc quyền” này khi đi quá chớn có thể làm cho ngữ pháp và ngôn pháp mất tự nhiên, hoặc tệ hơn nữa, trở nên lập dị.
Trong BTMK chỉ có một bài thơ sáng tác trước khi Saigon xụp đổ: Không Gian Vương Dấu Giầy. Tôi đoán HHC cố tình cho bài thơ này vào để cho chúng ta thấy sự khác biệt rõ ràng giữa một HHC còn quê hương và một HHC mất quê hương. Khi ấy (1960), HHC là một chiến sĩ nhảy dù trẻ tuổi, hoàn toàn hạnh phúc vì còn quê hương để yêu đời và còn được vừa đánh giặc vừa làm thơ. Tôi thích nhất đoạn chót, vừa trữ tình vừa hào hùng chi lạ:
 
Từng chiếc lại từngchiếc
Hoa dù nở trong mây
Hồn tôi ai chấp cánh
Không gian vương dấu giầy
Và bài thơ làm sớm nhất trong BTMK kể từ ngày mất quê hương, Tên Nô Lệ Mới (1979), cho người đọc thấy một HHC , cũng như thấy chính mình, cố nuốt hận để trực diện với cuộc đổi đời tàn bạo, chẳng trữ tình hoặc hào hùng chút nào:
 
Nuốt mãi vào tôi nỗi hận không nguôi
Tay nào mở một trang đời lạ hoắc
Cuộc sống bấp bênh với trăm ngàn ẩn trắc
Trung tướng bồi bàn thi sĩ lao công
 
Trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, buồn là cái chắc rồi, và không ai có thể thậm tả nỗi buồn này hơn HHC được trong bài Cõi Buồn Trên Ta (1984). Bài lục bát này đẹp não nùng, ai oán đến đứt ruột, chứa đựng những ẩn dụ và ví von trác tuyệt, làm sống lại trong tâm tư người đọc một quãng đời thực khốn cùng:
 
Ở ta cõi nhớ chẳng cùng
Tro than sự nghiệp, kiếm cung mạt thời
Máu theo giòng lệ chẩy xuôi
Tàn binh, bại tướng ngậm ngùi như nhau
Dốc lên hun hút cơn đau
Dốc về thăm thẳm vực sâu tủi hờn
Núi cao buồn lại cao hơn
Ta trên đỉnh núi, cõi buồn trên ta
 
Là nạn nhân của giai đoạn xung đột văn hóa đang vò xé tâm tư, HHC cũng lại nói lên dùm chúng ta cái cảm nghĩ rất thật, rất ... thiếu ngoại giao của chúng ta lúc đó về xã hội người Mỹ đã cho chúng ta đất tạm dung, trong bài Nghìn Dặm Khổ (1987):
 
Án mạng hiếp dâm như cơm bữa
Tưng bừng phụ nữ đòi phá thai
Linh mục sôn sao toan cưới vợ
Xứ này không thiếu chuyện bi hài
 
Khi cần thiết, HHC cũng có thể là một Tú Xương tân thời, trào phúng đôi chút về cuộc đời tỵ nạn. Tôi rất thú các đoạn sau đây của bài Vấn Ðề (1987), mà trong đó ngôn từ Việt- Mỹ đề huề, thực bình dân , thực tự nhiên và tinh quái:
 
Với ta chẳng có vấn đề mô
Cuộc sống tha hương nản thấy mồ
Còn chút hơi tàn còn chống cộng
Dẫu là Mỹ giấy hoặc Tây lô
 
Với ta chẳng có vấn đề to
Lay-ốp chỉ hơi thốn Bác Hồ
Nhà góp, xe vay chưa trả hết
Vợ con Ðai-ếch gầy như mo
 
Tú Xương tân thời lạc loài, tuy “đời đã xế” nhưng “chưa bỏ thói trăng hoa”! Vậy mà bà Tú vẫn “yêu chồng đến thiết tha”, thế mới biết nhà thơ tốt số thật. Bài Tạ Tình (1987) có đoạn kết dễ thương biết mấy:
 
Bố hẳn khéo tu nhiều kiếp trước
Hay em tiên nữ bị lưu đầy ?
Cám ơn Thượng Ðế ban ơn phước
Và cám ơn em trọn kiếp này
 
Nhưng mục đích tối hậu của BTMK không phải chỉ là để than van xuông đâu. Nó đáng được ca ngợi lắm, vì HHC đã xác định nó trong bài Ðời Bỗng Dưng Thừa (1987):
 
Xa quê lòng vẫn nhủ lòng
Lấy thơ làm đạn tấn công giặc ngoài
Lấy thân làm vọng đăng đài
Giúp cho con cháu nhớ hoài thù xưa
 
Một thí dụ điển hình của hoài bão “lấy thơ làm đạn” là hai đoạn sau đây của bài Nguyên Tố (1994):
 
Nhớ lại tháng Tư còn đỏ mặt
Thương quê vô lượng, hận vô bờ
Còn trong phế phủ niềm son sắt
Ðòi lại non sông dựng lại cờ
 
Xuân đã vào mùa, hoa hé nở
Sử vàng còn đợi kẻ hùng anh
Tự do dân chủ là nguyên tố
Ðể núi vươn vai, đất chuyển mình
 
HHC có ai là người đồng điệu “bên trời mài kiếm” và “lấy thơ làm đạn” trong thi ca nhỉ? Tôi nghĩ ngay đến một nhà thơ ở một phương trời khác, và một thời đại khác. José Martí (1853-1895) là một thi nhân, một người yêu nước nồng nàn của xứ Cuba. Tên tuổi ông trở thành đồng nghĩa với nền tự do của cả Mỹ Châu La Tinh, vì nền độc lập của Cuba (ra khỏi chế độ thực dân Tây Ban Nha) có được là nhờ những vần thơ khích động lòng ái quốc của Martí viết trong những năm lưu vong. Từ thuở thanh niên, nhà thơ này đã bị nhà cầm quyền thuộc địa bắt đi lưu vong, lần lượt tại Tây Ban Nha, Pháp, và New York. Cuối cùng, nhà thơ liều mạng cùng một số đồng chí trở về tìm cách giải phóng Cuba và bị sát hại ngay trên quê hương, ba năm trước khi giấc mơ Cuba độc lập trở thành sự thực. Martí định nghĩa vai trò của thơ như “một lưỡi kiếm sáng loáng khắc vào tâm não người đọc hình dáng của một chiến sĩ kiêu hùng; khi chiến sĩ ấy vung kiếm dưới ánh sáng mặt trời, thanh kiếm bỗng như mọc cánh ... Những bài thơ —những chiến sĩ của tôi— được rút thẳng ra từ ruột gan tôi.” Tất cả gần năm chục bài thơ trong tuyển tập Flores del destierro (Những cánh hoa lưu vong) của Martí đều nói đến sự khổ đau của đời lưu vong, ước vọng được trở về, giá trị của thi ca, và sự tủi nhục của dân tộc bị áp bức, qua một ngôn từ cực kỳ chân thành và giản dị. Mở đầu tập thơ nổi tiếng nhất của ông, Versos sencillos (Những vần thơ giản dị), Martí trần tình thiết tha:
Yo soy un hombre sincero
Tôi là một con người chân thật
de donde crece la palma,
quê ở nơi có những hàng dừa
y antes de morirme quiero
và muốn được , trước khi về cõi chết,
echar mis versos del alma.
trút ra đây lời tâm huyết trong thơ.
Trong những lời tâm huyết ấy, cái ẩn dụ về một xứ Cuba bị thống trị đánh mạnh vào tâm tư người đọc nhất có lẽ là hình ảnh một góa phụ sầu bi, khóc đã hết nước mắt, run rẩy cầm bông cẩm chướng đẫm máu trong tay. Hình ảnh thống khổ ấy ám ảnh và làm chết điếng nhà thơ Martí mỗi khi mặt trời lặn, mở đầu cho bài thơ Dos patrias (Hai tổ quốc) trong tập Flores del destierro. Nhưng nhà thơ đã vội cho người đọc biết ngay rằng hai tổ quốc đó là Cuba và đêm tối, và cả hai chỉ là một. Ðất lưu vong chẳng thể là tổ quốc thứ hai!
Thơ trở thành một vũ khí và một cõi riêng cho nhà thơ lưu vong Martí, với niềm tin mãnh liệt rằng “thơ còn quan trọng hơn cả kỹ nghệ cho một dân tộc, vì nếu kỹ nghệ cung cấp cho người dân phương tiện để no đủ thì thi ca mang lại cho họ niềm can đảm và lòng thiết tha với đời sống.” Quả thực, thơ của José Martí đã mang lại cho người dân Cuba đủ can đảm và thiết tha với đời sống để họ có thể lật đổ bạo quyền đô hộ Tây Ban Nha.
Trên miền đất tạm dung kỹ nghệ hóa bậc nhất thế giới này, chúng ta ai cũng no đủ, nhưng rất có thể một số trong chúng ta nhiều khi vẫn thấy cần phải được động viên tinh thần. Tôi nghĩ những lúc đó, như Khổng Phu Tử đã dạy “thi khả dĩ hưng”, chúng ta nên tìm đọc những tập thơ có giá trị thực mà Bên Trời Mài Kiếm của Hà Huyền Chi là một tiêu biểu.
ÐÀM TRUNG PHÁP
Introduction
 
Dear readers:
Upon skimming the collection Sharpening the Sword on the Sidelines by Hà Huyen Chi (HHC), I was struck by the thought that this poet might be suffering from chronic nostalgia. My gut feeling was later ascertained by HHC himself when he was interviewed by Lê Tao on the Literature and Arts Internet. In the interview he admitted that being away from the native land was his most dreaded punishment and he recalled, as a young lieutenant to be sent on a training tour abroad, how close to tears he was and how much he wanted to deplane, as soon as the plane took off.
 
I do appreciate that impassioned confession by HHC for it also aptly described how I felt when the plane took off when, as a young man, I was on my way to the United States to attend college. We felt that bad even though we knew full well that we would be able to return at the completion of our training! You can only imagine the magnitude of our punishment when we ran away from our native land after the humiliating defeat of 1975 without any hope of returning. How political refugees like us cope with a new life in America has been keenly observed by social scientists. According to researchers, it is a painful and complex psychological process that consists of four phases: (1) euphoria, the time during which the displaced people feel extremely glad that they have somehow  received a new lease on life; (2) culture shock; (3) stability; and (4) acculturation. Euphoria is only short-lived and may not mean much, but culture shock could last a long time and make their new lives miserable. Its duration depends on the individuals: the older they are, the longer their culture shock will last; and perhaps suffering the most during this trying time would be the sentimental artist whose heart bleeds easily. For this reason, I was not too surprised at another revelation that HHC made during the aforementioned interview about why his sadness has not subsided even after more than two decades: it has blended with his blood, seeped into his bones, like an incurable cancer. To live on, the poet has had to cope with his ailment¢s ebbs and flows, in a very personal world of encapsulation. I believe that HHC has expressed his psyche truthfully in the collection of poems you are holding in your hands. I also believe that it is his sincerity in his poetry that makes it appealing and beautiful.
 
HHC is also sincere in his poetic language, with his surgically precise diction in both learned and folksy idioms. He does not coquet with language, and nor does he abuse the so-called poetic license. This fact is to his own advantage, for abused poetic license could lead to unnatural or eccentric syntax, diction, and punctuation.
 
In this collection there is only one poem written before the collapse of Saigon: The Imprint of the Soldier¢s Boots in the Air. I guess that it has been included so that readers may see
the difference between a Ha Huyen Chi with his country and
a Ha Huyen Chi without his country. At that time (1960), he was a young airborne soldier, happy to be able to fight the enemy and write poetry at the same time. I love that poem, especially its last stanza, which is as charmingly chivalrous as it is beautifully lyrical:
 
One after another, the parachutes
In the cloud, flowers elude
I fly and see in the air
The imprint of the soldier¢s boots
 
(Let me confess here that every time I cite HHC¢s poetry in English, I really wish you could also enjoy it in Vietnamese for, despite Ngo Dinh Chuong¢s commendable translation skills and my contribution as his editor, the English version of this collection can only, at best, do partial justice to its Vietnamese original).
 
And the earliest poem in the collection since the loss of the country, The New Slave (1979), pictures a non-chivalrous and non-lyrical HHC swallowing his pride in the face of a cruel new life:
 
Swallowing hard, but the sorrow is endless
A new page in life has been turned
A precarious and treacherous period ahead
Lieutenant general became waiter, and poet laborer
 
Melancholy is the natural result of the egregious circumstances surrounding displaced people, and this overwhelming sadness is masterfully depicted in The Sadness Above (1984). The poem is heart-breakingly beautiful in its superb figurative language that reminds the author¢s fellow refugees of a most miserable period of their lives:
 
Here, a steep valley and a high hill
So similar to our country that I could feel
Upon stones, the waterfall is sounding music
Miles after miles of foggy veil
Reminds me of the burden in my soul
Of my lost past and a soldier’s sorrow
Bloody tears are still shed
In defeat, privates and generals are equally helpless
The upward slope as a graphic of my pain
While the down side, the depth of shame
My sadness is taller than the summit
Where I stand, yet it¢s beyond my reach
 
As a typical victim of culture shock, HHC did not find too many positive things in his new environment. In a desperate moment, he blurted out, rather undiplomatically, in the poem A Thousand Miles of Hardship (1987):
 
 
Each afternoon, after coming back from work
I sit back in front of a TV set
Half asleep and I can hear
Gun shots in peaceful episodes
Rape-murders are so often
Many women want to have abortions
Some priests intend to get married
There are just too many tragicomedies
 
Yet, whenever necessary, HHC could sound much like the popular satirist Tú Xß½ng of the past, perhaps as a means to ventilate his frustration with a new unfavorable social setting. I cherish the chaffing poem Problems (1987) in which the author code-switched between folksy Vietnamese and English vocabularies to deal with such everyday issues as a boring life in exile, fighting communism till the last breath, and the dire consequences of a job lay-off. In the midst of all these problems, and in spite of the poet¢s confessed die-hard Don Juanism, HHC can always count on a guardian angel, who is none other than his beloved wife. The last stanza of My Apology (1987) is a very touching tribute to her:
 
Had I done good deeds in my previous incarnation
Or were you a fairy on punishment ?
Thank God for the blessings I get
And sweetheart, I owe it to you my life, to the last.
 
The ultimate goal of Sharpening the Sword on the Sidelines, however, is much more than for simply ventilating a defeated soldier-poet¢s frustration. It is sublime, and HHC defined it for us in the poem Life Suddenly Turned Meaningless (1987):
 
Away from homeland, I¢ve nursed the will
My poetry as bullets against our enemy
And myself as a watch tower
For later generations to know their ancestry
 
Insights into the poet¢s determination to use ²poetry as bullets² can be found in the following stanzas of his Basic Elements (1994):
 
I still blush thinking of that April
Patriotism and anger still abound
In my mind and heart, as the willingness
To retake the country and raise the flag
It¢s Springtime; flowers blossom
The golden history still awaits its heroes
Freedom and democracy are basic elements
For the country to burgeon
 
Hà Huy«n Chi¢s noble determination ²to sharpen the sword on the sidelines² and ²to use poetry as bullets² makes me think of José Martí (1853-1895), a Cuban poet and patriot. His name became synonymous with freedom in Latin America, for it was his poetry written in exile that stimulated the Cubans during their struggle to regain their independence from the Spanish colonists. After decades of living in exile in Spain, France, and the United States, Martí returned to Cuba to fight the Spaniards and lost his life, three years before Cuba became independent. Martí defined the role of poetry as ²a shining sword that leaves in the minds of readers the image of a valiant soldier; when that soldier brandishes the sword in the sun, it seems to be on wings.... My poems --my soldiers-- come straight from my entrails. ² All the poems in his collection Flores del destierro (Flowers of Exile) deal with the hardships of a life in exile, the desire to repatriate, the value of poetry, and the humiliation of being oppressed, and are written in an extremely simple and sincere language. And, to begin his best-known collection, Versos sencillos (Simple Verses), he expressed his wish:
 
Yo soy un hombre sincereo
I am an honest man
de donde crece la palma,
from where the palms grow;
y antes de morirme quiero
and before I die I want my soul
echar mis versos del alma.
to shed its poetry.
 
The most compelling metaphor in Martí¢s poetry about an oppressed Cuba was perhaps the image of a sad and silent widow in long veils holding a bloodstained carnation that trembled in her hand. That heart-breaking image haunted him as soon as the sun went down, as he used it to begin the poem Dos patrias (Two Countries) in Flores del destierro. But he quickly pointed out that his two countries were actually Cuba and the night.
 
Poetry became a weapon and a refuge for José Martí, who firmly believed that ²whether it unites or divides the soul, strengthens or causes it anguish, props it up or casts it down, whether or not it inspires a man with faith and hope, poetry is more necessary to a people than industry itself, for while industry gives men the means of subsistence, poetry gives them the desire and courage for living. ²
 
In this most industrialized country on earth, we are all provided with the means of subsistence. Yet, the desire and courage for living at times may need to be reinforced, as many political refugees have had the experience. At such moments, following the wisdom of Confucius that ²poetry could restore, ² we should do well by reading poetry of true value, an example of which is Sharpening the Sword on the Sidelines by Ha Huyen Chi.
 
ÑAØM TRUNG PHAÙP

 

Trang 1
Vào Tập
 
Trang 2
Cheùn xuaân / A cup of Spring
Taøn maït / A dire situation
Thieân thu haän /A forever sorrow
Laøm côn ñòa chaán / A forcible love
Thoûi saùp moâi / A lipstick
 Chieàu rôi / A lonely evening
Nghìn daëm khoå /A thousand miles of harship
Ngöïa Hoà / An alienated horse
Laïc Gioïng / An insensitive song
Chôï trôøi San Jose / At San Jose flea market
Nguyeân toá / Basic elements
Giaûi lao / Break
Suoái heïn / Cup of sorrows
Baïc loøng / Disappointment
Ñoäc aåm /Drinking alone
Chieâng troáng / Drums and gongs
Löûa hôøn / Fire of sorrows
Caâu trong chieàu tónh maëc / Fishing in a quiet afternoon
Ñoâng laïnh / Frozen heart
Nhôù ñaày / Full of yearning
Baêng haø / Glacier
Haéc baïch /Good guys, bad guys
Nhaân gian coù ngaäm nguøi / Have people compassion
Taâm söï trôøi / Heaven¢ s secrets
AÛi traàm luaân / Hell’s gate
 
Trang 3
Soùng ngaàm / Hiden feeling
Theøm bôi thoûa giöõa cuoàng löu traøn chaåy/I wish to swim in the loving mood
Pheá nhaân / Incapacitated
Ñeøn loàng /Lantern
Ñôøi boãng döng thöøa / Life turned meaningless
Nhö ñaù ngaøn naêm / Like a thousand-year-fossil
Ngöôøi vaø quaï / Man and crows
Ngöôøi vaø caù / Man and fish
Söông vaây / Misty weather
Meï ôi,con meï chöa giaø /Mother, I, Your son am not old yet
Taï tình / My apology
Beán Phong Kieàu nhôù em /On Maple Bridge Pier, thinking of you
Chuoàng cu Pavie / Pavie¢ s cuckoo nests camp
Thô voã maët trôøi / Poem to defy the sun  
 
Trang 4 
Vaán ñeà /Problems
Sôï hôn noãi cheát / Scarier than death 
Beân trôøi maøi kieám / Sharpening the sword on the sidelines
Xuaân löõ thöù / Spring in foreign land
Chöõ leân ñöôøng / Still fight with words
Vaø boãng voâ cuøng...gheùt em/Suddenly I¢ m very much...loving you
Ngaém baát chôït loøng anh nghìn cöûa ñoäng /Suddenly, I see in thousand caves the image of love
Tröïc ngoä / Suden enlightenment
Buoàn ñöa ngöôïc doøng / Tearful April
Ngaøy Quaân Löïc / The Armed Forces day
Cheùn yeân haø / The brown fairy
Ngöôïc nuùi /The bus trip to a mountainous town
Ngoïn toùc phai / The color of feeling
Mai laõo chi taân / The energetic old man
Vaïn Lyù Tröôøng Thaønh / The Great Wall
Khoâng gian vöông daáu giaày / The imprint of soldiers¢ boots in the air
Hoan cöôøi / The laugh
AÙnh ñeøn / The light
Thaáy löûa binh xöa ôû maét ngöôøi / The look of war weariness
Maët naï / The mask
Daáu raêng haïnh phuùc / The mark of happiness
Teân noâ leä môùi / The new slave
Ñôøi ñau / The painful life
Xuoâi doøng nhôù / The quiet creek
 Coõi buoàn treân ta / The sadness above
Duïc vieãn hoài / The urge to come home
Thieân An Moân / Ba Ñình /Tiananmen / Ba Dinh
Ñoåi Ñôøi / Upsidedown
Nhöõng luùc giaän hôøn em / Why?

Trang 5

Ñoùng Taäp
Leâ Taïo 

 

 

Thơ:

 

Hà Huyền Chi

Kỹ Thuật:

 

Hà Trinh Tiết

Web Design:

 

Hà Phương Hoài
Hoàng Vân

     
 

Thư từ liên lạc hahuyenchi@aol.com
Copyright © 2003 Hà Huyền Chi
Last modified: August 14, 2005