|
BĂNG
HÀ
Núm
vú vươn cao, sữa trắng ngần
Áo
sương từng mảnh mướt vai trần
Lòng
rừng ngây ngất cây quên thở
Sông
đóng băng nghe sóng gọi thầm.
Rocky
Mountain,Canada 22-6-94
HHC/TTDN/86
NHỚ
ÐẦY
Tao
về nhớ núi trùng vây
Nhớ
tình thân hữu, nhớ mày nhiều hơn
Tao
về giấu nỗi cô đơn
Dưới
đôi dép mỏng cho đường bớt xa
Tao
về quên bẵng tuổi già
Tóc
phai, đời xế, ngỡ là tráng niên
Tao
về để lại mảnh tim
Nơi
thành phố lạ còn nguyên chất người.
Edmonton,Canada 26-6-94
HHC/TTDN/87
HOAN
CƯỜI
Bạn
mời dăm múi sầu riêng
Ngát
hương sông Hậu, sông Tiền trên môi
Trăm
gai nhọn lểu hoan cười
Giữa
dòng trôi dạt tả tơi nghìn trùng.
HHC/TTDN/88
SUỐI
HẸN
Paris
rộn rã Métro
Ðan
tay thiết lộ quanh co ngón buồn
Mỗi
ga thả một mảnh hồn
Ðời
như cổ tháp hao mòn phế hưng
Lúc
đi lòng thật dửng dưng
Khi
về lửa múa bập bùng cơn vui
Có
trong tẻ lạnh quê người
Trái
tim bằng hữu ngậm ngùi chia đau
Có
trong men tủi chén sầu
Trăm
con suối hẹn trước sau một dòng.
HHC/TTDN/89
KHÓI HƯƠNG BAY
Sớm
biết mẹ già như trái héo
Vẫn
hồn tơi tả giữa tin đau
Âm
dương giờ đã chia đôi ngả
Theo
khói hương bay tới đỉnh sầu
Nào
biết một lần con trốn mẹ
Lăn
vào đời sống lắm bon chen
Gót
chân lãng tử khinh dâu bể
Là
suốt đời xa bóng mẹ hiền
Lấy
thước con đo bụng dạ người
Tới
già tới chết vẫn lầm thôi
Nụ
cười trải thảm trên chông bẫy
Bằng
hữu thời nay thiếu đuốc soi
Con
vẫn cười khinh phường bá đạo
Cuối
đời chưa tỏ truyện vàng thau
Cố
nhân đổi ngựa thay dung mạo
Mặt
lạnh như tiền lúc ngó nhau
Vẫn
nhớ khi xưa lời mẹ dạy
Con
từng lấy máu trả cho quê
Hôn
quân, mạt tướng hùa nhau chạy
Nửa
bán cầu xa khuất hướng về
Hắt
hiu tâm sự vấp chân oan
Giấc
mộng đoàn viên quá muộn màng
Sự
nghiệp võ vàng dăm đấu chữ
Nói
làm sao đủ nỗi ly tan
Con
mẹ vẫn khờ như thế đó
Khư
khư ôm lấy cái vuông tròn
Người
như dưa hấu xanh mà đỏ
Quá
tuổi ngũ tuần vẫn chửa khôn
Mong
mẹ sớm về nơi cõi Phật
Giúp
con thanh thản giữ môi cười
Giúp
con giữ vẹn lòng chân chất:
“Người
phụ ta,ta chẳng phụ người.”
22-9-87 Khi hay tin mẹ
về trời
HHC/TTDN/90
ÐOÁ
VU LAN
Con
đứng nhìn trăng nuốt mặt trời
Chiều
hoang sương núi lạnh như đời
Sông
chia tình nước con lìa mẹ
Nửa
bán cầu xa lạnh mấy mươi
Thương
nước thương quê mài mũi hận
Nhớ
nhà nhớ mẹ trắng nghìn khuya
Mẹ
ơi biển cạn non mòn nhẵn
Ðắng
ngắt lòng con một chén thề
Vong
quốc thất phu còn tím mặt
Mang
thân chiến bại nhục nào hơn
Bao
năm con mẹ buồn hiu hắt
Sớm
hiểu hơn ai nghĩa đoạn trừơng
Hay
tin mẹ mất con không khóc
Lệ
chẩy vào tim, suối não nề
Con
mẹ tha hương sầu trắng tóc
Ngọn
nào cho mẹ ngọn cho quê?
Bao
năm bom đạn điên cuồng nổ
Nước
mắt thay canh đắng tuổi chiều
Mõ
cá mưa kinh lòa bóng nhớ
Mẹ
cầu cho núm ruột thương yêu
Cả
một vầng dương còn nhật thực
Trách
chi sông núi cũng điêu tàn
Nước
trời mong mẹ tràn thiên phúc
Ðừng
trách thằng con dở lại gàn
Ơn
mẹ kiếp này không báo được
Tâm
thành thơ nở đóa Vu Lan
Con
dâng tình mẹ cho tình nước
Mà
nước non mình vẫn nát tan
Mẹ
ơi trung hiếu đều không vẹn
Còn
chút hư danh nói cũng thừa
Nghĩ
lúc xuôi tay mà hổ thẹn
Mặt
nào nhìn lại tổ tiên xưa?
Vu
Lan 1991
HHC/TTDN/93
TIẾP
HƠI
Như
kẻ lên nguyệt cầu
Phá
tan cung huyền thoại
Người
dẫm nát quê đau
Bước
nghịch thường băng hoại
Người
về làm chi đây
Cõi
buồn ta mưa lầy
Ðáy
biển đầy xương trắng
Trại
đảo nghìn chua cay
Người
hoá thành sâu kiến
Người
khiếp nhược cúi đầu
Công
luận sôi bốn biển
Trời
hải ngoại mây sầu
Chính
tình đang thuận lợi
Niềm
tin mới xanh mầm
Người
trở cờ nông nổi
Toan
cản bánh xe lăn
Người
không cần nhân danh
Hãy
tự vấn tâm mình
Kẻ
thù đang hấp hối
Người
tiếp hơi sao đành?
HHC/TTDN/96
DÒNG
TÓC SÔNG XƯA
Ta
biết nhau từ thuở rất xa
Tình
cờ gặp lại nhìn không ra
Mắt
em còn gợn Hồng nhi tửu
Ta
sớm phong trần tóc điểm hoa
Em
buông cánh gió biệt đường mây
Mộng
cũng phai tàn theo kiếp bay
Ta
trên đầu sóng trôi hoang mãi
Dốc
cạn men đi chẳng đủ say
Em
gọi ta về kỷ niệm xưa
Tóc
em chẩy miết một dòng thơ
Thuyền
ta xuôi ngược triều hiu quạnh
Chưa
định neo vào một bến mơ.
Ta
bỏ quê hương biệt núi sông
Thân
trai nợ nước trả chưa xong
Kiếm
cung ném lại ngàn thu hận
Thơ
vẫn từng trang rướm máu hồng
Ta
gặp nhau chi giữa xứ người
Ngỡ
ngàng tâm sự nhớ đầy vơi
Trường
giang dòng tóc không trôi nữa
Sông
cuộn mình trên gáy ngậm ngùi.
Ðêm
cạn, Paris ôn cố sự
Thương
hoa tiếc ngọc, giận trời cao
Ta
tội tình chi mà biệt xứ
Em
tội tình chi cũng ba đào?
Hôm
ta về Mỹ lòng dao cắt
Em
ráng cười đưa nụ héo khô
Ta
có ngàn đêm mưa thối đất
Em
còn gì trên sấp ngửa Métro?
Paris Tháng 4,1987
HHC/TTDN/98
TIẾP
MỘT DÒNG THƠ
Ta
leo dốc nhớ khật khùng say
Ðời
nản chông chênh dưới gót giầy
Ta
bóc da người mang lốt thú
Kể
từ nuốt chửng tháng Tư cay
Em
giờ bán quán, thành cô chủ
Ta
vẫn cu ky kiếp ngựa trâu
Ðừng
nhắc những ngày hương phấn cũ
Xin
đừng dao cắt xuống tình đau
Miếng
bánh phu thê đắng giữa môi
Những
giây im lặng chứa muôn lời
Ta
van em đấy đừng tra vấn
Trong
đáy hồn ta bão ngậm ngùi
Ta
thả nghìn đêm vào khói thuốc
Kiếm
niềm kiêu hãnh đã xa bay
Ngó
quanh ai kẻ đau lòng nước
Cứu
vớt quê hương khỏi đọa đầy
Ðoàn
kết, từ mòn như thớt thịt
Người
hô rách phổi cũng bằng không
Xứ
quân kháng chiến, chân hay bịp?
Thống
nhất, bây giờ tiếng tự phong!
Tóc
xanh giờ đã tiêu nhường muối
Lòng
vẫn phiêu bay một bóng cờ
Mừng
gặp lại nhau chia nỗi tủi
Với
nhau chẩy tiếp một giòng thơ.
Tháng
Tư,1987
HHC/TTDN/101
ÁC
BÀ BÀ
Nhớ
nhau mộng ngắn mộng dài
Sầu
trong khuê các, buồn ngoài quan san
Trương
Chi bỏ súng tan hàng
Bỏ
thuyền, bỏ nước lang thang đến già
Mỵ
Nương thành Ác Bà Bà
Người
gần gẫy gọng, người xa sút càng
Ðêm
đêm trong chén Bạch đàn
Chàng
Trương sặc máu còn khan tiếng hò.
HHC/TTDN/103
BÈO
NỔI
Mừng
ngươi đã tới Hoa Kỳ
Ðầu
sông bèo nổi khác gì cuối sông
Có
nghe hờn tủi dậy lòng
Giữa
rừng cao ốc mênh mông xứ người
Tiếc
chưa nốc cạn rượu đời
Ðể
say mãn kiếp để cười chung thân
Gửi
ngươi một đóa phù vân
Mai
ngày trang trí trên phần mộ ta.
Tháng
11,1987
HHC/TTDN/104
TỊNH
KHÔNG
Ðầu
xuân mù mịt tuyết rơi
Cố
hương nghìn mảnh tả tơi hiện về
Nến
hồng nhỏ lệ thương quê
Vẫn
rừng bất hạnh tứ bề bủa vây
Chung
trà nổi sóng trên tay
Ðổ
bao nước mắt chưa đầy biển đông
Vẫn
người trại đảo mòn trông
Trăm
miền đất hứa vỡ trong hoang đường
Vẫn
người bất trí vô lương
Sách
thù rao bán trên xương máu người
Bao
xuân hương khói ngậm ngùi
Lộc
non tuyết phủ cành côi cút buồn
Chợt
nghe hai tiếng Sài Gòn
Rộn
ràng pháo nổ giữa hồn tịnh không.
Xuân
Mậu Thìn
HHC/TTDN/105
TUỔI
CHIỀU
Giấc
cong, cây ngả, tuổi chiều
Ta
ngồi lưng thẳng mà xiêu bóng đời
Tóc
xanh, tóc đã bạc rồi
Cao
xa con mộng rã rời cánh bay
Cội
tùng giang rộng đôi tay
Nửa
kia toan nhận, nửa này còn chưa.
Tháng
Tư 1995
HHC/TTDN/106
GỬI
EM
Gửi
em phân nửa đời còn
Nửa
kia trang trải nước non, ân tình
Mai
này em hết yêu anh
Thịt
xương gửi sóng bồng bềnh cũng vui.
HHC/TTDN/109
NỬA
KIA ƠI
Chót
đã tiêu hoang nửa cuộc đời
Ðừng
buồn ta nhé, nửa kia ơi
Cho
dù tai tiếng, hơn tăm tiếng
Ðối
diện lương tâm chẳng hổ ngươi
Chẳng
ngán thiên lôi chẳng sợ trời
Rượu
chè, cờ bạc tý ty thôi
Trăng
hoa quen thói, em thừa biết
Ðời
vẫn cùng em đũa có đôi
Sáu
bó coi như đủ vốn rồi
(Tưởng
đâu bể gáo lúc ba mươi)
Bạn
bè bao kẻ trong da ngựa
Tổ
quốc ghi ơn ở quá thời
Vẫn
câu chung thuỷ là tâm niệm
(Ðáy
sóng mò trăng có lúc thôi)
Cung
kiếm mạt thời, đời mạt kiếp
Chỉ
còn em đó, nửa kia ơi!
HHC/TTDN/110
THƠ
TRONG DA NGỰA
Cõi
thơ sương mù thở
Ðất
trời gần nhau hơn
Ðóa
hoa gai đợi nở
Giữa
sa mạc cô đơn
Thơ
đến từ muôn hướng
Từ
biển mẹ, rừng cha
Từ
cơn say ngất ngưởng
Từ
cảm thức ngoài ta
Thơ
bay thuyền lá múa
Thơ
sóng dựng ngang đầu
Ngoài
song tù nắng lụa
Cùm
xích gọi mưa sầu
Thơ
ngạo đời di tản
Thơ
sôi sục hờn căm
Tim
thơ nhiều dấu đạn
Giọt
lệ hồng trăm năm
Cõi
thơ mang bão nổi
Quét
sạch chợ côn trùng
Bầy
thi nô đạp đội
Uốn
ngòi bút như lưng
Thơ
căng trên thập giá
Thơ
lay động tôn kinh
Thơ
ru đời nghiệt ngã
Thơ
truy nã phận mình
Thơ
không cần son phấn
Khi
kẻ thù nhởn nhơ
Hãy
cùng thơ xung trận
Nổ
tan tành với thơ
Mong
thơ anh, thơ chị
Là
tên nhọn giáo trường
Những
bảo châu ngọc quý
Rừng
chữ nghĩa lên đường
Thơ
bọc trong da ngựa
Cùng
sông núi hẹn thề
Ném
vào thơ chất lửa
Thơ
đọc ngàn sau nghe
Cõi
thơ rền sấm động
Máu
chẩy giữa ngôn từ
Ðám
thiên thần cẩn trọng
Ðem
khắc vào thiên thư.
Tháng 6,1987
HHC/TTDN/112
ÐI
Ở TRÊN MÂY
Ngươi
ồn ào đòi thay đổi quốc ca
Ðòi
xé bỏ trang sử vàng tranh đấu
Lịch
sử chúng ta
Ðược
viết ra bằng xương bằng máu
Cho
hoà bình, độc lập, tự do
“Công
dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!”
Máu
đã chảy đáp lời sông núi gọi
Tưới
ngọt ruộng đồng
Bón
xanh rừng núi
Cho
đồng bào ta áo ấm cơm no
Hai
chục triệu dân Nam thề giữ vẹn cõi
bờ
Rạng
danh con Hồng cháu Lạc.
Lịch
sử buồn đã lật qua trang khác
Bởi
lãnh đạo hèn ngu
Bởi
tà thuật ngoại bang
Và
bởi quân thù giảo quyệt gian tham
Ta
cúi mặt bỏ đi
Ôm
giữ lá cờ vàng
Làm
hành lý cho những ngày mật đắng
Ngươi
nghe chăng lời tổ tiên trách mắng:
“Nhữ
đẳng hành thiên khử bại hư..”
Ta
bỏ đi lòng canh cánh quốc thù
Ta
góp gió đợi ngày làm giông bão
“Thù
nước lấy máu đào đem báo..”
Trồng
lại niềm tin
Vun
đắp mầm xanh
Ðể
trả ơn cho thế hệ cha anh
Ðã
hiên ngang ngã xuống
Gió
hải ngoại dẫu chưa cùng một hướng
Vẫn
cờ vàng phơi phới giữa tim ta.
Ngươi
ồn ào đòi thay đổi quốc ca
Từ
biệt thự Hoàng Hôn đài các
Quang
phục quê hương bằng Sâm-banh, Cô-nhắc
Bằng
nhai lại giọng xỏ xiên
Của
quân thù đốn mạt
Ngươi
mê muội tự biến thành loa sắt
Giúp
quân thù dài hơi
Ngươi
háo danh đem đại cuộc đùa chơi
Với
tầm nhìn ngươi thiển cận hẹp hòi
Ngươi
phỉ báng bao anh hồn tử sĩ
Ngươi
bất trí
Làm
những điều cạn nghĩ
Ngươi
manh nha toan phá nát cộng đồng
Bằng
bôi xoá nốt biểu tượng thiêng liêng
Như
khí giới cuối cùng
Ðiểm
hội tụ của trăm giòng nghịch lũ.
Ngươi
trơ trẽn và ồn ào quá đủ
Ðể
dọn đường móc ngoặc đu giây
Với
quân thù
Trong
ngoài nước đều hay
Lạy
Bùi Tín, đội Thu Hương quá nhẽ
Mộng
điên rồ, ngươi muốn làm hoàng đế
Kẻ
vô lương đang tập sự buôn người
Mặt
nạ ngươi đã bị gỡ xuống
rồi
Lã
Bất Tâm, tên đại bịp tân thời
Hoàng
đế rổm
Tên
lang băm bất trí
Ngươi
đã tỉnh hay còn đương mộng mị
Trên
ngài vàng chỉ thấy ở cơn say
Kể
như là ngươi đi ở trên mây
Thơ
mở lối cho ngươi về địa
cảnh.
HHC/TTDN/116
SẦU ÐẠO
Dòng
xe hối hả tuôn mau
Ngược
xuôi trăm ngả trên sầu đạo ta
Bốn
phương trời đất bao la
Về
đâu hỡi kẻ tan nhà mất quê?
HHC/TTDN/120
LẬN
ÐẬN QUÊ NGƯỜI
Cốt
tro ta trải trên đồng
Cho
xanh lúa sữa cho hồng bếp vui
Cho
em thơ biết ngọt bùi
Cây
rơm, đàn kén thơm mùi ca dao
Xóa
đi một thuở binh đao
Quên
hầm xác lạnh, quên hào máu đông
Rượu
cần say khướt núi sông
Tiếng
cồng bản thượng ru lòng trung châu
Sẽ
rừng với biển thương nhau
Lá
cờ vô sản thay mầu vàng tươi
Bao
năm lận đận quê người
Tủi
thân nhìn xuống cuộc đời thừa ta.
HHC/TTDN/121
NẾN
HỒNG
Thắp
mãi tromg ta ngọn nến hồng
Xuân
này xuân nữa vẫn hoài mong
Tóc
xanh sớm nhuốm mầu chia biệt
Em
với lòng kiên vẫn thuỷ chung
Hàn
biểu chập chờn dưới độ âm
Ðêm
ta trắng mộng tuyết mưa thầm
Thương
quê ngàn tuổi còn điêu đứng
Em
với quê hương vẫn cát lầm
Ta
mãi chôn chân giữa xứ người
Ngóng
hoài tín hiệu một xuân vui
Ðám
đông cúi mặt về ăn tết
Ðắng
ở lòng ta nỗi ngậm ngùi
Ta
vẫn phương này vọng nhớ em
Thương
về sông núi đủ ba miền
Nến
hồng vẫn thắp cho em đó
Một
ngọn ân tình với lửa tim.
HHC/TTDN/122
EM
PHƯƠNG NÀO
Chiếc
khăn thêu nho nhỏ
Ðôi
bướm lượn tung tăng
Hồn
ta trên cánh gió
Bay
ngược chiều quang âm
Ta
về thăm em đó
Thăm
cuộc tình trăng sao
Thăm
vùng trời bão tố
Kiếm
mảnh đời hư hao
Mái
nhà em ngói rụng
Vườn
nhà em mưa lầy
Qua
rồi mùa gươm súng
Vẫn
giết chóc tù đầy
Ta
tìm em chẳng thấy
Núi
rừng vấy máu tươi
Mồ
hoang như lau sậy
Người
chẳng nói tiếng người
Trại
tù nhiều như nấm
Em
ở đâu bây giờ?
Giang
sơn mình hoa gấm
Còn
tan tác tiêu xơ
Tìm
em trên thiết lộ
Con
tầu thở đứt hơi
Những
đỉnh cao thoái bộ
Ðang
tiến nhanh giật lùi
Tìm
em nơi đáy biển
Giải
sóng buồn cư tang
Tìm
em nơi ổ điếm
Da
thịt đau bàng hoàng
Liên
ơi, em phương nào?
Ôi
cuộc tình trăng sao
Núi
sông vì ta đó
Cũng
tang thương ba đào
Liên
ơi, em đâu rồi?
Ta
trên quê hương người
Bốn
mùa đều thương nhớ
Nỗi
thương nhớ nghẹn lời
Chiếc
khăn thêu nho nhỏ
Gói
trời đất ở trong
Em
phương nào lệ đổ
Cũng
nhớ thương bạc lòng?
HHC/TTDN/124
THÔNG
ÐIỆP VÀNG
Ngọn
gió lùa tung đám lá vàng
Thả
trên giòng suối chút vui ngang
Bến
bờ sắp tới ai đưa đón
Mà
mộng đơn sơ cũng rộn ràng
Vẫy
mỏi bao mầm xanh nụ biếc
Thì
thầm kể lại những mùa vui
Xứ
người đâu có chi lưu luyến
Ðời
mạt từ khi lá chửa rơi
Tuyến
lửa Ðông,Tây cháy khắp cùng
Quê
nhà âm ỉ chút than hồng
Mai
này gió chuyển niềm tin tới
Lửa
bốn ngàn xưa cũng cháy bùng
Lá
vội theo sông vào biển rộng
Trôi
về Tân cảng, Bạch Ðằng xưa
Ðể
cùng thấy được ngày vui trọng
Vàng
rực non sông một sắc cờ.
HHC/TTDN/128
|