| Home  | Tiểu Sử HHC | Thả Gió Bay Đi | Mục Lục | Từ Thơ Đến Nhạc |
HHC - Nhánh Nhỏ Giao Cảm | Thơ Ghé 1 Chân | Hot Links  |

| English | Audio & Video | Dịch Mậu Binh | Thơ Chuyển Ngữ | Suối Thơ |
|
Góc Thơ HHCTác Phẩm HHC Thơ Mậu Binh |  Trang Đặc Biệt | Thư Tín  |


 HHC

 
 
Ha Huyen Chi
 Mau Binh
Số
Phác Thảo Bộ Phim Văn Sử
Con Tiên Cháu Rồng
Mời vào trang

Mục Lục Thơ Mậu Binh ABC

Mục Lục Thơ Mậu Binh Theo Từng Tập

 

| Home  | Tieu Su HHC | Lang Du | Tha Gio Bay Di | Muc Luc | Tu Tho Den Nhac | Nhanh Nho Giao Cam | 

| Goc Tho HHC Tac Pham HHC Tho Mau Binh |   Hot Links  |Thu Tin  | Tho Chuyen Ngu |

Ha Huyen Chi
 Mau Binh
 
 
 
 


 Xác Mây, Ngục Gỗ

Tạp ghi của Băng Ðình  
 
Vào một ngày nào đó khoảng cuối năm 1958. Bạn tôi,Nguyễn Bình Thuận, SVSQ Ðà Lạt khoá 14,trong cuộc hành quân thực tập mãn khoá, đã ghé thăm tôi tại một trại quân của Sư Ðoàn 4 Dã Chiến (tiền thân của SÐ 7 BB) tại miền duyên hải. Thuận dẫn theo Ðặng Trí Hoàn, cùng trung đội. Lần đầu tiên tôi gặp tác giả bài thơ Saut Ðêm, Hà Huyền Chi.( Một số bài thơ khác anh ký dưới bút hiệu Ðặng Tử Hoàn)
 
Tháng 10 năm 1962, một số cán bộ CTTL được tăng phái cho Vùng I Chiến Thuật. Hà Huyền Chi thuộc nhóm phát thanh. Tôi phụ trách môn Du Kích Chiến cho Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân, trụ sở đặt ở đầu cầu Bạch Hổ, cố đô Huế. Ngày 2 tháng 4 năm 1963, khắp miền địa đầu nói chung, thành phố Huế nói riêng náo loạn vì nội dung bài vở của một Ðài Phát Thanh bí mật đả kích cả hai miền. Ðó là đài Ðông Hà, một hoạt động dưới hình thức tuyên truyền xám của ngành Chính Chiến. Dĩ nhiên luận điệu của đài lạ nhắm tranh thủ cảm tình thính giả cho miền Nam một cách khéo léo. Ðài Ðông Hà mở đầu cho những Mẹ Việt Nam, Gươm Thiêng Ái Quốc sau này.
 
Trên đường công tác đôi khi chúng tôi gặp nhau tại Ðông Hà, trong quán chè “ruồi” (chè,xôi đậu đen)-chữ của Hà Huyền Chi-dưới những cơn gió Lào đầy bụi và ruồi. Ruồi có thể chết đuối trong chén chè hoặc dính cứng vào điã xôi. Ở đây Hà Huyền Chi cùng một nhà thơ khác đã phát hiện,và chính Hà Huyền Chi luyện giọng nói cho một thiếu nữ địa phương. Một thời gian sau Ðài Quân Ðội trung ương có giờ Dạ Lan. Em Dạ Lan đã làm ấm lòng các chiến sĩ tiền đồn vào lúc nửa khuya chờ giặc. Ôi thị trấn Ðông Hà cùng Dẫy Phố Buồn Thiu và sau này thêm Ðại Lộ Kinh Hoàng thuộc vùng Hoả Tuyến! Khi các Tướng Tá cùng nhóm cơ hội đào sâu chôn chặt Ðệ Nhất Cộng Hoà, chúng tôi được rút về Tiểu Ðoàn 3 CTTL đồn trú tại Ðà Nẵng. Thời gian đầu tôi coi Trung Ðội Văn Nghệ. Rồi bàn giao cho Hà Huyền Chi. Tôi phải vào Hội An để coi một Ðại Ðội Tâm Lý Chiến tăng phái cho Biệt Khu Quảng Ðà với những xáo trộn tiền Mậu Thân.
 
Chưa hết, cuối năm 1967 chúng tôi lại phục vụ cùng một KBC 3168, Cục Tâm Lý Chiến, ở những lãnh vực khác nhau: Báo Chí, Ấn Hoạ, Truyền Hình, Ðiện Ảnh. Hà Huyền Chi đã tạo được tên tuổi qua mấy thi phẩm ăn khách.
 
Gần gũi nhau cả chục năm quân ngũ như vậy. Lạ sao tình thân không nhích lại chút nào. Dầu hai đứa vẫn theo dõi thơ nhau qua báo chí. Không thân, chẳng sơ. Riêng tôi chưa hề coi thường anh về bất cứ phương diện nào. Nhất là, cũng như bạn tôi, Nguyễn Bình Thuận, anh chọn Binh chủng Nhẩy Dù, trong khi tôi chỉ lè phè ở Bộ Binh vào đầu mùa tình nguyện nhập ngũ.
 
Sau đó tôi rời Quân Ðội để phục vụ ngành truyền thông dân sự cho tới ngày miền Nam xụp đổ. Những năm cuối cùng hai đứa không hề gặp nhau, dù vẫn ở Sài Gòn.
 
Tuyệt đại đa số Quân, Cán, Chính VNCH nếu còn kẹt lại đều chui vào rọ Cải Tạo từ tháng 6-1975. Chúng tôi sống bằng những tin đồn và những tin... thơ.
... Ðôi dép râu dẫm nát đời son trẻ
Nón tai bèo che lấp ánh tương lai...
Hoặc
... Nam nhận “họ” ghi vào lý lịch
Bắc nhận “hàng” lịch kịch khuân ra...
 
Dư luận cứ nhất định gán cho Hà Huyền Chi là tác giả. Tôi cũng không hiểu bằng cách nào, thơ anh đã về quê. Và thơ anh vào trại do thân nhân thăm nuôi lén đọc vanh vách. Chính bà xã tôi, chả có cảm tình gì với nàng thơ, cũng thuộc được một bài, trong đó có câu:
... Bốn mươi tuổi mới u ơ học nói...
 
Dưới đáy hoả ngục, chúng tôi thật cảm khái những vần thơ Hà Huyền Chi hải ngoại. Càng đói khát chúng tôi càng ước mơ hoàn cảnh của anh. Dẫu sao những vần thơ này cũng là niềm an ủi, hơn là những tin đồn phi lý để rồi thất vọng não nề. Bỗng nhiên nhà thơ Mũ Ðỏ này được nhắc đến nhiều nhất trong những buổi “Tao Ðàn bỏ túi”. Anh em Nhẩy Dù luôn hãnh diện Saut Ðêm với những câu:
... Từng hồi chuông ngân rờn rợn da đầu...
“Các bố phải thực sự trải qua thì mới biết được cảm giác này”.Tôi cũng có dịp góp được mấy câu của Hà Huyền Chi về một tiền đồn tử thủ:
 
... Xin hãy chém đầu thần
Trước khi hàng giặc dữ
Hãy bắn lên đầu tôi
Bắn đi anh pháo thủ...
 
Anh không bị cải tạo song thơ anh đã cùng chúng tôi... cải tạo bọn cán ngố. Một tên quản giáo đã gọi tôi vào nhà “lô” (Kiểu nhà kho, nhà làm việc của cán bộ bên cạnh hiện trường như lò gạch, vườn rau ,ruộng, dẫy...). Bấy giờ khoảng cuối năm 1977. Miền Nam đã mở cánh cửa bưng bít của Miền Bắc. Tôi vốn yếu về thể lực lại nghèo về tiếp tế, bị cán gọi thường là bị xỉ vả, cảnh cáo về chỉ tiêu lao động.Trường hợp này chỉ cần một điều 555 là được hoá giải. Nếu dùng thuốc nội hoá không có đầu lọc chúng sẽ chê:
            -Thuốc không cán thế này biết đốt bằng đầu nào?
Tới trước tên Sĩ quan Quản giáo, tôi đứng nghiêm theo quy định.
-Báo cáo “Ban” cho gọi tôi.
Ban tức là Ban Giám đốc trại. Còn Cán Bộ là danh xưng cúa đám Hạ sĩ quan và Binh sĩ.
-Hôm trước anh giả bệnh nằm nhà chép cả một cuốn truyện Kiều truyền nhau đọc. Giấy mực trại phát để học tập sao anh dám lãng phí?
-Dạ tôi chỉ dùng những mẩu giấy lượm lặt.
-Anh thuộc hết quyển Kiều?
-Cũng có chỗ quên, phải hỏi anh em để bổ túc.
-Thôi ngồi xuống làm việc.
-Cảm ơn Ban.
-Ở chế độ Ngụy làm thơ, viết báo có được ăn lương không?
 
 
Chẳng rõ chuyện gì thế này, song tôi cứ trả lời theo sự hiểu biết của mình.
-Chính quyền cũng như Quân đội không trả lương cho văn nghệ sĩ. Chỉ có nhà xuất bản hoặc giới chủ báo trả cho họ tác quyền và nhuận bút. Có khi tác giả bỏ tiền tự xuất bản. Ðây tôi chỉ nói về giới cầm bút. Tôi còn nói khá dông dài về lãnh vực này mặc dù chưa đoán được chủ tâm của tên Quản giáo. Chợt hắn hỏi tôi về một vài thi sĩ như Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền... và bất ngờ:
-Thế Hà Huyền Chi có lấy L.L.Ng. không?
Tôi bỗng nhiên ú ớ.
-Thưa Ban quả tình tôi không biết.Nhưng hình như là không.
-Cùng lò Chiến Tranh Tâm Lý mà không biết. Thôi được anh cứ việc dấu. Cái gì mà chúng tôi chả biết. Chợt có một Cán bộ khác đang bước tới nhà “Lô”. Tên Quản giáo đập bàn và cao giọng.
-Anh lao động như vậy đó. Ðã lười biếng lại còn gian dối. Ngày mai trước khi đội triển khai công tác thì mang cuốn Kiều nộp tôi.Về đội!
Vừa đi tôi vừa “bá ngọ” tụi nó cả cán ngố lẫn ăng ten.Tôi đọc thầm Kiều, chép Kiều để giải sầu và để tưởng nhớ mẹ tôi. Mẹ tôi không biết chữ nhưng thuộc lòng Kiều, Chinh Phụ, Cung Oán... Mẹ dùng cả cuốn Kiều ru thằng con út là tôi, nên tôi thuộc Kiều ngay khi chưa đi học. Còn tôi dính líu với thơ Hà Huyền Chi chẳng qua vì đàn đúm hút xách với mấy tên “Tao Ðàn bỏ túi”. Thế là lại khổ rồi! Thơ Kiều cùng mẹ tôi lúc nào cũng ở trong lòng tôi. Chỉ tiếc cuốn Kiều chép tay để tự rà lại trí nhớ, nhất là giúp mấy “bố” giỏi khoa học dốt văn chương biết thế nào là chữ nghĩa. Chỉ cần mấy câu:
 
... Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường...
Hoặc
... Dặm nghìn nước thẳm non xa
Biết đâu thân phận con ra thế này...
Là đủ khiến các “bố” khóc mùi.
 
 
Chẳng rõ chuyện gì thế này, song tôi cứ trả lời theo sự hiểu biết của mình.
-Chính quyền cũng như Quân đội không trả lương cho văn nghệ sĩ. Chỉ có nhà xuất bản hoặc giới chủ báo trả cho họ tác quyền và nhuận bút. Có khi tác giả bỏ tiền tự xuất bản. Ðây tôi chỉ nói về giới cầm bút. Tôi còn nói khá dông dài về lãnh vực này mặc dù chưa đoán được chủ tâm của tên Quản giáo. Chợt hắn hỏi tôi về một vài thi sĩ như Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền... và bất ngờ:
-Thế Hà Huyền Chi có lấy L.L.Ng. không?
Tôi bỗng nhiên ú ớ.
-Thưa Ban quả tình tôi không biết.Nhưng hình như là không.
-Cùng lò Chiến Tranh Tâm Lý mà không biết. Thôi được anh cứ việc dấu. Cái gì mà chúng tôi chả biết. Chợt có một Cán bộ khác đang bước tới nhà “Lô”. Tên Quản giáo đập bàn và cao giọng.
-Anh lao động như vậy đó. Ðã lười biếng lại còn gian dối. Ngày mai trước khi đội triển khai công tác thì mang cuốn Kiều nộp tôi.Về đội!
Vừa đi tôi vừa “bá ngọ” tụi nó cả cán ngố lẫn ăng ten.Tôi đọc thầm Kiều, chép Kiều để giải sầu và để tưởng nhớ mẹ tôi. Mẹ tôi không biết chữ nhưng thuộc lòng Kiều, Chinh Phụ, Cung Oán... Mẹ dùng cả cuốn Kiều ru thằng con út là tôi, nên tôi thuộc Kiều ngay khi chưa đi học. Còn tôi dính líu với thơ Hà Huyền Chi chẳng qua vì đàn đúm hút xách với mấy tên “Tao Ðàn bỏ túi”. Thế là lại khổ rồi! Thơ Kiều cùng mẹ tôi lúc nào cũng ở trong lòng tôi. Chỉ tiếc cuốn Kiều chép tay để tự rà lại trí nhớ, nhất là giúp mấy “bố” giỏi khoa học dốt văn chương biết thế nào là chữ nghĩa. Chỉ cần mấy câu:
 
... Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường...
Hoặc
... Dặm nghìn nước thẳm non xa
Biết đâu thân phận con ra thế này...
Là đủ khiến các “bố” khóc mùi.
 
Hôm sau, nhận xấp giấy đủ cỡ đủ mầu, dầy đặc mực tím viết thẳng hàng, không ngắt câu lục bát để tiết kiệm giấy. Tên quản giáo nhìn tôi bằng ánh mắt lạ, giọng trầm xuống.
-Anh vừa tuổi tác vừa đau yếu. Tôi muốn chiếu cố. Hẳn anh thừa thông minh... Tôi mượn đọc lại vài đoạn chứ không tịch thu đâu. Ở vùng cao (Việt Bắc) đào đâu ra. Từ nay trở đi anh chăm sóc trong ngoài nhà “Lô”. Nhớ vun tưới, làm cỏ bầu bí và mấy luống rau. Nhớ là phải làm thật tốt.
-Cảm ơn Ban.
Tôi bỗng trở thành “Giáo sư Việt văn”. Thoạt đầu là bình giải điển tích Kiều. Rồi điểm qua các nhân vật. Tới Từ Hải, Quản giáo cãi rằng tên này biết đánh đàn. Tôi phải đem thơ Hoàng Sào ra chứng minh:
Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng
Nhất trạo sơn hà tận địa truy.
 
Nguyễn Du phóng tác thành “Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo”. Ðàn này là loại cung đặc biệt. Mũi tên bắn đi có thể thâu về. Chữ đàn này là đàn hồi... Mặt hắn nghệt ra.
-Thế mà tôi cứ tưởng là cây đàn!
Duyên văn nghệ còn đi xa. Quản giáo bắt tôi chỉ cho niêm luật thơ thất ngôn, kỹ thuật lục bát, tự do. Chưa hết.
-Anh phải tuyệt đối giữ bí mật nhé. Anh làm cho tôi một bài thơ, bất cứ loại nào. Nội dung là vì nhiệm vụ tết này tôi không về Hà Nội thăm cô bạn gái được. Anh muốn làm thế nào cũng được mai đưa tôi nhé. Trà với thuốc của tôi anh được dùng thỏai mái.
Hôm sau tôi “nộp bài” cho “học trò”. Ðó là một bài lục bát không ngắn không dài .Bây giờ tôi chỉ còn nhớ được hai câu:
            ... Dẫu người đầu cuối dòng sông
Như mây với gió đôi lòng đâu xa...
 
Tất cả những sự kiện trên chỉ là DIỆN. Ðây mới là chính ÐIỂM,là cái tổ con chuồn chuồn! Quản giáo lôi ra một... tập thơ Hà Huyền Chi. Một tập thơ không còn bìa, không tên, không tựa. Chỉ có những bài thơ lính và thơ tình. Mối tình giữa nhà thơ và L.L.Ng. Quản giáo không cho tôi coi mà chỉ dở từng trang, hỏi tôi về L.L.Ng., về một vài câu tối nghĩa mang tính thơ Hà Huyền Chi.
-Các anh ở trong ấy sướng thật!
Ðược dịp, tôi nói về tự do qua tập thơ điển hình trong tay Quản giáo.
-Bây giờ Ðế quốc vẫn dùng thơ anh ta phát thanh về Việt Nam. Chúng còn tung cả báo phản động nữa. Anh biết chuyện này không?
-Chúng tôi tập trung từ năm 1975 đến gi làm sao biết được...
Một hôm Quản giáo “bồi dưỡng” cho tôi một gói xôi đậu phọng và đưa trả cuốn Kiều. Với một giọng khá cảm động gần như thì thầm.
-Anh ráng giữ gìn sức khoẻ...
Tôi cảm ơn và tặng luôn xấp giấy chép tay vì đã được gia đình gửi cho một cuốn Kiều của Trần Trọng Kim. Hôm sau một số chúng tôi chuyển trại vào Thanh Hoá.
Tôi vào Mỹ ngày 24-1-1990.” Bởi chất đắng tiết ra từ đồng tiền xã hội”, nên tôi kiếm việc làm hai tháng sau đó. Tôi dùng những ngày “phi lao động” đọc ngấu nghiến mớ sách báo tiếng Việt ở Hải ngoại. Tái ngộ thơ Hà Huyền Chi cùng những biếm thi dưới bút hiệu
Mậu Binh... Nưả sau thập niên 50, Ðinh Hùng ký tên Thần Ðăng tung ra những vần thơ châm biếm nhằm triệt tiêu huyền thoại Hồ Chí Minh. Từ cha già dân tộc biến thành bịp bợp cáo hồ.” Cụ Hồ” thành “cái giống”. Tới Thơ Kẽm Gai của Mậu Binh thì quả tên tội đồ dân tộc đã hoá thành CỤC ÐỜM LỊCH SỬ cần nhổ ra, khạc ra... Tôi cũng kiếm được vài tập thơ mới của Hà Huyền Chi. Ðiểm nổi bật của nhà thơ lưu vong này là:
Tình yêu quân ngũ
Tình yêu quê hương
Tình yêu đôi lứa
Tâm sự lưu đầy
Tất cả xoáy vào chủ điểm duy nhất: CHỐNG CỘNG! Kẻ thù của chúng ta đã có hành động trơ trẽn nhầy nhụa là in thơ Hà Huyền Chi vào những tuyển tập phát hành ở quốc nội. Cựu Thiếu Tá QLVNCH Ðặng Trí Hoàn tức Hà Huyền Chi tức Mậu Binh đã viết thư ngỏ phản đối việc làm đểu cáng này và xác nhận lập trường bất biến của mình... Chống Cộng tới khuya! Còm cọm chống Cộng một mình, thơ Hà Huyền Chi bỗng chót vót như một trái núi đột khởi giữa thảo nguyên thoả hiệp. Hơn thế nữa như một mộ bia Việt Nam Cộng Hoà ghi đủ tính danh những người đã ngã xuống, hoặc chưa ngã xuống nhưng trong lòng khôn nguôi nỗi hờn vong quốc...
 
(hinh 4)
 
Muà hè 1996 thất nghiệp cần tiền. May sao tôi xin được một chân thợ mộc. Có ngày làm tới 10 tiếng, mồ hôi ướt đẫm áo quần. Tổng cộng ngót hai ngàn giờ cúi gằm trên những tấm ván, khi chà láng khi quết sơn. Tuổi ngoài 60 tôi mới gặp Vân. Không phải Vân Muội, nàng thơ của người thơ họ Vũ. Vân chỉ là những đường vân trong phiến gỗ. Với chút vốn Hán Việt còm cõi, tôi hiểu rằng vân là mây. Nên chi vân gỗ cũng như mây trời thiên hình vạn trạng, đậm lạt tùy chỗ. Mây trời phiêu du ướt át, mây gỗ bất động khô khan. Ðúng là xác mây khô liệm trong quan tài gỗ. Dùng danh từ xác, tôi đã mặc nhiên nhân cách hoá mây rồi. Buồn thay lại là những làn mây đã chết. Tưởng tượng, có thể là hoang tưởng xa hơn nữa. Xưa có những nàng tiên phạm tội phải đầy xuống trần gian. Tại sao nay không có những áng mây lỡ vận bị giam vào ngục gỗ? Ðánh mất bầu trời, mây đành ôm mối sầu mây.
 
“Vuốt đâu xuống đất cánh đâu lên trời”
Cụ Nguyễn Du đã nói thế.Chỉ khi nào ngục gỗ bị mục mây mới thành bụi rơi vào lòng đất, hoặc bị cháy mây mới thành khói bay lên bầu trời. Nhưng khói bụi đâu phải là mây, đâu còn được là mây nữa. Người ta thường rao giảng tình yêu rộng lớn, tôi xin nhắc đến mối sầu dằng dặc của mây, chẳng những trong gỗ mà còn trong đá nữa. Ngắm những đường vân ấy tôi chỉ cảm thấy nó đẹp, thêm chút đắng cay về thân phận. Mây có đủ năm mầu song tôi quả thực chưa thấy ai
đặt bút viết mây vui...
 
Cũng mùa hè 1996 tôi gặp lại Hà Huyền Chi qua điện thoại viễn liên. Gần bốn chục năm quen biết, tôi gặp tâm sự tôi trong thơ anh. Riêng tôi bỗng thấy gần gụi anh, như cố tránh xa những giao tình bèo bọt biển dâu. Tôi bỏ làm thơ từ năm 1992 vì bất lực với chữ nghĩa. Nay tôi hiểu rằng hồn thơ tôi đã tìm được quán trọ nơi hồn thơ bạn. Một hồn thơ man mác sầu mây.
 
Tôi không phải là nhà phê bình văn học. Lại càng không muốn làm cậu học sinh viết bài bình luận văn chương. Chỉ mong những thi phẩm hải ngoại của Hà Huyền Chi- Trang đầu tới trang cuối không hề chênh lệch về nghệ thuật cũng như kỹ thuật- được góp mặt trong những thư viện Quốc Tế. Ngõ hầu làm chứng liệu cho người sau tìm hiểu về Việt Nam Cộng Hòa cùng tâm sự não nề của những người bảo vệ đoá hoa bạc mệnh đó.
 
Sau năm 1945 Mẹ tôi là người đàn bà đau khổ nhất trên trái đất này vì những mất mát, sinh ly, tử biệt. Thơ Kiều đã giúp bà nguôi ngoai chuỗi ngày tàn cô độc, đắng cay. Với tôi, trên đất Mỹ, đọc thơ Hà Huyền Chi để thấy mình bơ vơ, “may mắn” nhưng không hạnh phúc!
 
Băng Ðình
(14-9-96)
 
 

Thơ:

 

Hà Huyền Chi

Kỹ Thuật:

 

Hà Trinh Tiết

Web Design:

 

Hà Phương Hoài
Hoàng Vân

     
 

Thư từ liên lạc hahuyenchi@aol.com
Copyright © 2003 Hà Huyền Chi
Last modified: August 14, 2005