|
| |
 |
 |
|
|
|
| Home | Tieu
Su HHC | Lang
Du | Tha Gio Bay Di | Muc
Luc |
Tu Tho Den Nhac | Nhanh Nho | Giao Cam | |
|
|
Goc
Tho HHC
| Tac
Pham HHC | Tho
Mau Binh | Hot
Links
|Thu
Tin |
Tho
Chuyen Ngu
|
|
|
|
- Hà Huyền
Chi,
- Nhà Thơ Lưu Vong Bất Mãn
-
- TRẦN
VĂN NAM
-
-
- Lớp
người di dân đến một xứ lạ nào
trên thế giới cũng trải qua ba biến trình
hội nhập vào xã hội mới\. Thế hệ
thứ nhất gồm Cha Mẹ (và một ít Ông Bà)
đây là thế hệ nặng trĩu về quá
khứ và quê hương\. Chật vật và bất mãn
với hiện tại\. Tương lai hoặc bi quan như
viễn ảnh hoàng hôn của đời mình;
hoặc lạc quan như một hứa hẹn bình
minh gởi vào con cháu\. Thế hệ thứ hai là
thế hệ con cái của họ, dù là sinh tại quê
hương hay tại đất mới nhưng đều
thừa hưởng giáo dục gia đình, muốn
phấn đấu vượt thoát hiện tại,
được Cha Mẹ luôn nhắc nhở qua các
chuyện kể về quê hương và như để
đền đáp, cho nên đây là thế hệ thường
rất giỏi, rất thành công, được thúc
đẩy do mặc cảm của thế hệ
thứ nhất\. Và thế hệ thứ ba là những
đứa cháu của họ, đây là thế hệ
hoàn toàn hội nhập vào xã hội mới, ngày ngày
trôi theo dòng đời mà không có những đột
biến độc đáo, quê hương và dân
tộc chỉ còn là những vang bóng của gia
phả\...
- Hà
Huyền Chi là nhà thơ tiêu biểu cho người
Việt di dân thuộc thế hệ thứ nhất,
bởi vì thơ của ông chuyên chở nỗi
ngậm ngùi pha trộn một chút gì kiêu hãnh của
quá khứ, chuyên chở nỗi u uất buồn chán
hiện tại, chuyên chở cái lạnh lẽo hư
không trước viễn ảnh hoàng hôn của đời
người\. Không phải người Việt di dân
thuộc thế hệ thứ nhất nào cũng
hất bại, nhưng có thể nói đó là đa
số, một thiểu số cũng đã thành công\.
Hiếm hoi nên không đại diện cho thế
hệ thứ nhất của người di dân\. Làm
thế nào thế hệ thứ nhất thành công
được khi bước vào đất mới,
bỡ ngỡ trước xã hội mới, giới
hạn khả năng vì ngôn ngữ mới\. Hơn
nữa lớp người Việt di dân thuộc
thế hệ thứ nhất ra đi hoặc vội vã
kông kịp chuẩn bị đem theo vốn liếng
như lớp người di tản bằng máy bay Hoa
Kỳ năm 1975; hoặc gian nan bị cướp bóc
trên biển, trên bộ như lớp người ra
đi rải rác sau năm 1975\. Hà Huyền Chi là
một Sĩ Quan Cấp Tá trong Quân Ðội Việt Nam
Cộng Hòa tức Miền Nam Việt Nam trước
1975\. Cũng là nhà thơ đoạt giải thưởng
văn chương toàn quốc năm 1971\. So với
hiện tại thì quá khứ đối với ông là
một nhớ tiếc, nhớ tiếc quê hương
và nhớ tiếc cuộc đời quân nhân\.
Biết bao nhiêu người cũng sống như ông
tại Hoa Kỳ, nhưng ông cảm thấy như cô
đơn một mình tại tiểu bang Washington :
-
- MỘT
MÌNH
-
- Ðứng
đây nhìn xuống cuối đồi
- Mênh
mông tuyết trắng như trời để tang
- Ðứng
đây lệ nhỏ hai hàng
- Ngùi
trông quê mẹ ngút ngàn biển xa
- Ðứng
đây ngó xuống tuổi già
- Tủi
thân vong quốc xót xa cõi hồn
- Ðứng
đây ngó xuống bầy con
- Lơ
là tiếng Việt, yêu ngôn ngữ người\.
- Ðứng
đây nhìn cuộc đổi đời
- Một
mình ngang dọc tiếc thời dọc ngang
- Ðứng
đây gọi mãi Việt Nam
- Chỉ
nghe tiếng vọng dư vang đáp lời
- Ðứng
đây vẫn một mình tôi
- Trong
lòng như cũng tuyết rơi ít nhiều.
-
- HHC
-
- Người
Việt Nam vốn có tính phân biệt tôn ti trật
tự xã hội, do sự thừa hưởng nền
giáo dục phong kiến từ xưa để lại\.
Họ đến đất mới cảm thấy có
vài đảo lộn trật tự, có trường
hợp người trước đây là thuộc
cấp bây giờ thành kẻ chỉ huy do sự làm
việc siêng năng mà được cất nhắc
lên địa vị trong cơ sở Hoa Kỳ, có trường
hợp người trước đây là kẻ
thất thế, nay trở nên giàu có, làm nên, do sự
tháo vát chịu khó\. Nhật báo Los Angeles Times đã nêu
lên trường hợp đó trong số đặc
biệt 30/4/1984 kỷ niệm 10 năm rời bỏ
miền Nam Việt Nam : “Employers have experienced problems
with the Indochinese regard for social class\. Taking orders or directions
from someone who held a lesser job in Vietnam can be a serious obstacles
for some workers\. One production manager said a conflict erupted when a
former high - ranking army officer had to report to a supervisor who
previously was an enlisted man”\. Hà Huyền Chi chắc
hẳn cũng thấy bất mãn với việc làm
trong giai đoạn đầu khi tới Mỹ,
một việc làm không chuyên môn trong một xứ
đòi hỏi sự huấn luyện kỹ thuật lâu
dài và qua nhiều năm kinh nghiệm mới có
việc làm tốt:
-
- THỨC
NGỦ
-
- Mười
năm cúi mặt kéo cày
- Tóc
nhiều sợi bạc chỉ tay nhẵn mòn
- Núi
sông thức ngủ trong hồn
- Thảng
nghe động tiếng gươm cùn trong bao
-
- HHC
-
- Những
người trí thức, những quân nhân thuần túy,
những viên chức hành chánh có lẽ đều lâm
vào hoàn cảnh tương tự như Hà Huyền
Chi, phải chấp nhận những việc làm
miễn cưỡng, không thích hợp với mình,
bởi vì môi trường hoạt động của
họ là ngôn ngữ Việt Nam, hoàn cảnh xã
hội Việt Nam, làm sao họ vươn lên cao
được trong xã hội Hoa Kỳ nếu không
muốn bắt đầu làm lại cuộc đời
từ số không, phải bỏ công học hỏi
nhiều năm tại các đại học Hoa Kỳ,
hoặc nếu không đủ sức lao động
thật giỏi, hoặc nếu không có sẵn vốn
đem theo hay dành dụm để mở các cơ
sở thương mại\. Nếu không có những cái
đó, họ đành sống một cuộc đời
dở thầy dở thợ\. Không phải ai cũng có
tài thích nghi với mọi hoàn cảnh\. Trong thiên nhiên
có loài sinh vật đổi màu da để thích nghi
với môi trường một cách dễ dàng, xoay
trở để tồn tại, nhưng cũng có loài
chim chỉ đẹp khi bay trên bầu trời như
loài hải âu\. Hà Huyền Chi thấy mình như
hải âu, thi sĩ của bầu trời, thi sĩ
của đại dương, mà nay rơi xuống sàn
tàu, nhốt lòng trong vỏ ốc:
-
- VÀO
TUỔI NĂM MƯƠI
-
- Với
năm mươi tuổi ưu sầu
- Ðôi
chân muốn rụng cái đầu muốn điên
- Khật
khùng giữa nhớ và quên
- Say
trong cơn tỉnh, khóc mềm khi vui
- Vào
đời thép cứng vừa trui
- Mũi
tên Tự Thắng xé trời ngạo bay
- Giữa
đời cung gẫy trên tay
- Lệ
đào chảy suốt tháng ngày bại vong
- Cuối
đời nửa dại nửa ngông
- Mãi
đem vỏ ốc nhốt lòng đại dương
- HHC
-
- Ông
nhớ tiếc cuộc đời, nhớ tiếc
sự nghiệp, nhớ tiếc quê hương\. Quê hương
vẫn còn đó, nước Việt Nam vẫn còn
đó, nhưng tâm tư người lưu vong coi như
đã mất nước\. Không giống như các
lớp người di dân khác trên thế giới đến
Hoa Kỳ vì lý do kinh tế, họ đến Mỹ vì
lý do chính trị\. Cũng có những người
Việt ra đi vì lý do kinh tế, tìm cuộc sống
mới văn minh tiến bộ và hạnh phúc sung sướng
hơn ở quê nhà, nhưng họ ra đi bằng
đào thoát, phạm pháp đối với chính
phủ Cộng Sản Việt Nam hiện tại, nên
tất cả như bị cắt lìa với Việt
Nam, không mong ngày trở lại (quy về thời điểm
trước năm 1984)\. Người Do Thái lưu
lạc trên khắp thế giới có một Tổ
Quốc nhỏ ở vùng sa mạc để hướng
về; người lưu vong chính trị nay cũng có
mặt trên khắp thế giới, có một quê hương
nằm ven bờ Thái Bình Dương để
nhắc nhở quá khứ\. Một đàng chỉ xa cách
vì trùng dương cách trở, còn có dịp hành hương
trở về, một đàng thì chẳng những
trở ngại vì không gian, mà họ còn thấy
trở ngại vì chế độ chính trị\. Quê
muôn dặm biển đối với Hà Huyền Chi (quy
về thời điểm trước 1984) vì ông là
một người tỵ nạn chính trị, một
sĩ quan Cấp Tá của Chế Ðộ Cũ, mà
tuổi tác thì cũng đã về chiều, chắc
chẳng bao giờ còn có dịp trở về chốn
cũ\.
-
- THƯƠNG
CON SUỐI CẠN
-
- Ai
đem ta đến chốn này
- Ðêm
đêm héo mộng, ngày ngày héo gan
- Lửa
thù khôn ấm nỗi hàn
- Quê
muôn dặm biển đời toan về chiều
- Bốn
mùa núi nhớ quạnh hiu
- Thương
con suối cạn buồn thiu vọng nguồn
-
- HHC
-
- Sài
Gòn là thủ đô miền Nam Việt Nam trước
đây\. Ðối với những người làm Văn
làm Báo thì Sài Gòn là thế giới thân thuộc, là nơi
gặp gỡ bạn bè văn nghệ, trợ giúp thi
vị cho những tâm hồn yêu thơ như Hà
Huyền Chi: con đường tình nhân với lá me
bay, dòng sông dài gợi nhớ dòng sông Seine của
Paris, những giờ tan học áo trắng nữ sinh
bay rợp khắp đường, buổi tối công
viên những cặp tình nhân hò hẹn, lúc nửa
đêm về sáng phố phường trống
trải mênh mông, những ngày mưa nước bay
trắng xóa mái nhà, những quán cà phê nhỏ dưới
hàng cây, cô hàng bán sách bên đường, những
phòng trà có người ca sĩ ta yêu, những rạp
hát có vở tuồng ta thích, những chiếc xe
nhỏ bán bánh mì với mùi thịt heo thơm ngát,
những gánh hàng rong mời gọi buổi chiều
gần chợ Bến Thành, những gánh xôi trước
quán cà phê buổi sángà\... tất cả những cái
nho nhỏ và ấm áp làm ta nhớ Sài Gòn, cho nên yêu
quê hương nhiều khi đồng hóa với yêu Sài
Gòn\. Ghi lại ở đây vài nét thi vị của Sài
Gòn, chắc có vài điểm không xa với những
rung cảm của Hà Huyền Chi:
-
- NGẬM
NGÙI TÍNH SỔ
-
- Con
trăng đậu bến Ðồng Nai
- Nhẩn
nha tính sổ những ai mất còn
- Ai
trong lao xá ngậm hờn
- Tha
hương ai vẫn Sài Gòn trong tim
-
- HHC
-
- Sài
Gòn trong tim Hà Huyền Chi, ngoài những nhớ
tiếc cảm giác kể trên, còn cái ngậm ngùi
nhớ tiếc những người bạn văn
nghệ, những chiến hữu của ông\. Hà
Huyền Chi là một quân nhân, thơ ông phảng
phất tính chất nhà binh, pha trộn với buồn
chán của cuộc đời thất thế\. Cái tôi
ngang tàng của một quân nhân pha trộn với ý
niệm về phù vân, bèo trôi, cát lầm, làm cho thơ
ông có chiều hướng bi quan, nghiêng về ý nghĩa
siêu hình của đời người\. Người xưa
tri thiên mệnh ở tuổi 40, H.H.C\. cũng sớm tính
sổ lúc tuổi năm mươi:
-
- DẠO
PHỐ MÙA XUÂN
-
- Dậu
người hoa bắt dây leo
- Vàng
phai lá nhớ, tay chiều ngùi thương
- Hôm
mai sầu rụng bên đường
- Còn
trên lưng gió ngát hương hải tần
- Dặm
dài cho biết phù vân
- Về
đâu thì cũng cát lầm bèo trôi
- Lội
mòn vỉa phố quê người\.
- Họa
may tìm gặp cái tôi ngang tàng
- Giao
thừa lửa đốt buồng gan
- Mỗi
xuân lữ thứ có ngàn dao đâm
-
- HHC
-
- Nỗi
niềm bi quan của Hà Huyền Chi là mối sầu
bất-đắc-chí, không phải là triết lý Hư
Không của Phật Giáo, không phải là triết lý
Thanh Thản của Lão Trang\. Ông cảm thấy lưu
lạc nơi xứ người, buồn rầu trước
viễn ảnh đất lạnh vùi xương
ở quê người\. Rải rác trong thơ ông hình
ảnh của chiều tà, tuổi già, gươm cùn
trong bao, đại dương trong vỏ ốc,
khiến ta nghĩ ông vừa có khuynh hướng xa lánh,
vừa có khuynh hướng dấn thân, vừa
muốn hành động, vừa cảm nhận nỗi
bất lực của mình\. Cho nên ý nghĩa siêu hình
về kiếp người của ông hàm chứa
nỗi bất đắc chí\. Những ý nghĩ
về siêu hình trong thơ Hà Huyền Chi vẫn liên
hệ với vấn đề lưu vong\.
-
- CÔ
HỒN
-
- Dưới
khe rụng cánh hoa rừng
- Xa
quê sống giữa người dưng cũng buồn
- Mai
đây đất lạnh vùi xương
- Ngàn
thu cháo lá mà dương bất hoài.
- HHC
-
- Trần
Văn Nam
- (Trích
trong cuốn sách dự thảo:
- THI
NHÂN VIỆT NAM HẢI NGOẠI)
-
|
|
|
|
-
-
|
|
|
|
|