| Home  | Tiểu Sử HHC | Thả Gió Bay Đi | Mục Lục | Từ Thơ Đến Nhạc |
HHC - Nhánh Nhỏ Giao Cảm | Thơ Ghé 1 Chân | Hot Links  |

| English | Audio & Video | Dịch Mậu Binh | Thơ Chuyển Ngữ | Suối Thơ |
|
Góc Thơ HHCTác Phẩm HHC Thơ Mậu Binh |  Trang Đặc Biệt | Thư Tín  |


 HHC

 
 
Ha Huyen Chi
 Mau Binh
Số
Phác Thảo Bộ Phim Văn Sử
Con Tiên Cháu Rồng
Mời vào trang

Mục Lục Thơ Mậu Binh ABC

Mục Lục Thơ Mậu Binh Theo Từng Tập

 

Hà Huyền Chi, một góc nhìn

Nguyên Nhi

một - cái chính tâm kia sẽ mãi là như thế

...Nhớ tôi đã làm quen với thơ Hà huyền Chi từ lâu lắm. Từ một sớm mai học trò nào đó chợt biết bâng khuâng tự cảm về cái bé nhỏ phận mình, chợt thảng thốt nhận ra sự đổ vở của thế giới chung quanh, chợt xót xa chứng kiến bóng hoàng hôn đang phủ trùm trên những thần tượng một thời. Tôi đã chép lại thơ anh, những bài thơ thoáng gặp đâu đó trên những tạp chí mượn được, bên cạnh những tên tuổi lẫy lừng đương thời. Niềm tâm cảm của anh về một cuộc chiến nghiệt oan và những cuộc tình nghiệt ngã đã theo tôi suốt tháng ngày binh lửa. Và, một tối không may, quyển vở không rời ấy đã chìm sâu đáy nước trong trận phục kích của một trung đoàn đặc công thủy Việt cộng.
Hơn hai mươi năm sau cuộc dâu biển hoang tàn, tôi có trong tay những tập thơ mới nhất của Hà Huyền Chi. Những bài thơ ghi lại dấu ấn muôn đời một thuở đẹp mù tận tuyệt. Những bài thơ ắp tràn thương tích thiên thu một thời đau xa quá vãng.

Thơ ta thương tích trăm lần
Mật hay rượu ướp cũng ngần ấy đau

Với thơ anh, tôi lại "nhớ gì đâu một thuở rộn đao binh", tôi lại "thấy lửa binh xưa ở mắt người", tôi lại gặp

Đầu sông một gã lính già
Ôm cần, câu nỗi nhớ xa buồn gần

Hà Huyền Chi đấy ! Một người lính cổ điển thuần khiết ! Lãng mạn đến cô đơn! Hồn nhiên dến khốn khổ ! Người lính lãng mạn cuối cùng còn sót lại của một thế kỷ đầy những biến động kinh hồn. Người lính hồn nhiên trong một cuộc chiến đầy nghi vấn của một đất nước kỳ lạ trong một giai đoạn lịch sử dị thường. Ở thơ anh không có những triết lý trừu tượng, những ưu tư siêu hình về chiến tranh, thân phận người đã từng một thời là món trang sức phù phiếm của giai tầng trí thức trùm chăn. anh không lý giải cuộc chiến. Anh không biện giải thái độ nhập cuộc. Anh chấp nhận chiến tranh như một thực tại trong một thế giới đã phân định thiện ác, chính tà. Anh dấn thân mà không hề để ý hoặc cố tình không biết đến những mưu toan chính trị hiểm độc sau lưng người lính. Anh chiến đấu khốn cùng cho niềm tin tất thắng, cho màu cờ vinh quang, để rồi xót xa ray rức khi nhận chân rằng vận mệnh cuộc chiến không nằm trong tay người lính can trường và đau đớn bàng hoàng khi sự sụp đổ là định mệnh cay nghiệt dành cho chính nghĩa dân tộc anh, để hôm nay

Tóc xanh giờ đã tiêu nhường muối
Lòng vẫn phiêu bay một bóng cờ

Nhưng đối với người lính già Hà Huyền Chi, cuộc chiến tranh kia chưa kết thúc. người lính "nửa đời làm lính giữ quê, quê đau đã mất lời thề còn đây" ấy vẫn lặng lẽ "mang kiếm gẫy lên đường", vẫn

Còn trong phế phủ niềm son sắt
Đòi lại non sông dựng lại cờ

Chiến tranh và tình yêu đôi lứa là hai chủ đề lớn trong thơ Hà Huyền Chi. Đôi khi, một tập thơ tình nào đó của anh được lồng khung trong một khoảng thời gian cố định, như anh viết "để ghi dấu một mùa đời nghiệt ngã". Nhưng thực ra không có, không hề có một ranh phân giữa Hà Huyền Chi - thơ chiến đấu và Hà Huyền Chi - thơ tình. Tuy hai mà một. Như nước với mây. Nước là mây đã thành. Mây sẽ vì đời soi bóng nước.
Thơ chiến đấu Hà Huyền Chi bàng bạc một tình yêu. Thơ tình Hà Huyền Chi ngất ngây mùi chiến trận. Khác chăng là, bước vào cõi tình lồng lộng Hà Huyền Chi, ta sẽ bất an thêm với chập chùng nghi nan, hụt hơi thêm với mịt mù truy vấn. Và phải chăng vì vậy cõi tình Hà Huyền Chi thêm huyền hoặc đắm mê ? Thơ "vui mương lạch" và "buồn tràng giang". Tình yêu hà Huyền Chi bừng bừng một "mặt trận miền Tây" lừng lừng "thơm từng trận can qua" và khốn đốn "bâng quơ gợi đến một tan hàng".

Thân ta đầy đọa trong chinh chiến
Chẳng mấy ngày yên hưởng thái bình
Trải bao bầm giập, bao oan nghiệt
Em cũng bao lần dấy lửa binh.

Trong tâm thức người lính khốn cùng và người lính bất toại ấy, quê hương thương khó trong thời buổi dị thường này vẫn muôn đời quay quắt :

Những bàn chân giao chỉ
Mỗi ngón một bánh xe
Chạy ngàn trùng xa
vẫn quê hương trong tầm nhớ

Mãi mãi Hà huyền Chi, người tình son trẻ. Mãi mãi, Hà Huyền Chi, người lính không già. Kiến thức nông cạn và kinh nghiệm non nớt không cho phép tôi đánh giá một tài năng chói sáng. Lại nữa, như anh viết : "Chữ đôi khi đã không còn mang nghĩa thông thường. Chữ ngụy trang và nghĩa hóa thân". Hãy để công việc nhiêu khê đó cho những nhà phê bình văn học. Họ có quá nhiều lý do để bận tâm đến anh. Phần tôi, tôi chỉ muốn trầm mình mê muội trong không gian bát ngát Hà Huyền Chi. Cảm ơn anh đã xót đời, lụy người, trang trải hộ chúng ta những sầu muộn khôn khuây, những niềm đau khôn tỏ. Anh viết :

Dù gì cũng khiến ta tan nát
Cái được ta trong cái mất người

Tôi chưa được biết những câu thơ nào tuyệt vời hơn thế. Đơn giản mà thâm trầm. Diễn đời mà đạt đạo. Tôi bỗng nhớ đến một tinh hoa cổ học. Chuyện Vua nước Sở đi săn bị mất cung quý. Phải chăng ngoài nỗi đau quê mất tình xa, có nghĩa gì đâu những rớt rơi mất mát đời thường. Phải chăng :

Dù gì cũng khiến ta thanh thản
Cái mất ta trong cái được người

Hà Huyền Chi là một sự kết hợp giữa tài năng và nhân cách. Cởi mở chân thành với bạn bè, trân trọng quý mến lớp đàn em, Hà Huyền Chi là một nơi gởi gấm tâm sự đáng tin cậy trong một thế giới đảo điên, một xã hội rã rời, mọi giá trị truyền thống mà chúng ta hằng tôn quý đang bị thử thách cay nghiệt. Đọc hà Huyền Chi là đọc lại đời mình một thuở yêu đương, một thời chiến đấu.
Lần nọ, anh gởi tôi tập thơ mới in mà anh vừa vớt lên sau một trận lụt. Tôi sực nhớ lại những bài thơ tôi chép năm 18 tuổi. sao thơ anh lại có duyên với sông nước, với thủy thần thế này ? Anh viết thư cho tôi : "Nhà ta bị lụt. Thơ ướt nhưng lòng chưa ẩm mục, lên rêu. Sẽ mãi mãi là như thế". vâng, tôi tin, Hà Huyền Chi, người lính - Hà Huyền Chi, người tình - Hà Huyền Chi, cái chính tâm kia "sẽ mãi mãi là như thế"

Muội ơi đáy biển bao sâu hở
Có thước nào đo cái chính tâm ?

 



hai - kẻ bên trời gọi bão

Tuyết rơi từ giữa đêm. Tuyết vắt khăn gai ngang trán thấp phố xa. Tuyết xây mộ hoang trên bụi nhỏ đầu hè. Tuyết đóng bưng vườn trí tưởng mù lãng. Tuyết mở toang rừng cổ thái tình hoài. Áo ai về sóng sánh trùng khơi. Ôi ngón tay nào vừa gõ xuống mặt phím bụi mờ ta những ngày tháng Hai nằm bệnh. Tiếng đàn chùng.

Buổi sáng ả y tá tóc vàng cười lém bên những viên thuốc nhỏ. Ta lại vật vã mòn hơi bám víu cuộc sinh tồn. Buổi trưa đến lượt gã phát thư với mớ giấy má bộn bề. Ta lười nhác thả mắt qua tên người, tên đất. Hồi chuông nào vừa quấy động mặt sóng quen xưa. À ra chung quanh ta vẫn rộn ràng hệ lụy. Vậy mà đã tưởng dịp này ta có thể tạm yên ổn thoát ra những vây bủa lưới người. Để ta có dịp nhìn ta. Cuộc chơi lớn đôi khi cần thế. Dừng nghỉ một thoáng và đánh một dấu mốc dưới chân:

"Chỗ ta ngồi ngàn xưa người đã
Đâu có gì mới lạ hôm nay" **

Giữa cơn phiền muộn tháng Hai này, Hà Huyền Chi lại lừng lững đến. Vẫn ngất ngưởng một bầu thế sự. Vẫn ngang tàng một túi bình sinh. Ta bỗng hân hoan như sợi khói lưng phòng. Ta chợt háo hức như giọt đen chạm cốc. Hà Huyền Chi đến. Thư đơn bạc một trang. Thơ phiêu bồng một tập. Bão Đầy:

"Heo hút ngựa người leo dốc mỏi
Thênh thang trời đất biết về đâu"

Giọt chiều tàn phai thảng thốt rơi xuống lòng lụa bạch. Đôi nét chấm phá tự họa của người làm thơ. Sau lưng nhàn nhạt sơn lâm, trước mặt mờ mờ viễn phố, chàng kiêu bạc bước ra từ lãng mạn cổ thi:

"Nghiêng vai dốc túi bình sinh
Rưới bầu rượu đắng xuống mênh mông buồn"

Rũ áo phong sương trên đường xa xứ lạ, tráng sĩ bâng khuâng nghe trời đất sang mùa. Chưa tàn cơn giá tháng Hai, chàng đã thấy mùa xuân đang âm thầm mở hội:

"Dường như trời đã vào xuân
Là khi nghe lại tiếng thầm lời hoa
Dường như trời biển riêng ta
Long lanh sóng nhạc, bao la hải tần"

Cũng dừng lại đây ngọn gió hoa niên làm tâm bão. Hội xuân nào huyền hoặc đắm mê xưa. Dáng kiều hoa lại thướt tha về từ con trăng binh lửa cũ:

"Người từ thanh xuân
Bây giờ gặp lại
Nàng là đông lân
Trăng miền quan tái"

Và rung cảm xuân thì đã phục sinh ở hội xuân này, ở thời gian và nơi chốn mà sự tái ngộ tưởng là điều bất khả:

"Kể từ đánh mất tuổi xuân
Đánh rơi tuổi lính, vong thân tuổi thừa
Có em như một tình cờ
Ta trân trọng giữ tuy ngờ vận hên"

Thì ra tình yêu không chết bao giờ. Tình xanh xa ngoan ngủ ở vách tim, chỉ tiếng nhỏ thì thầm đủ rộn ràng kích ngất:

"Tưởng đã bình yên trong cõi tạm
Quên đời phong sương quên bão loạn
Nào hay giông tố đến từ em"

Bão đã nổi! Con sóng nhỏ vong thân đã vươn vai sau ngàn dậm hải trình, cuộn xoáy đến cạn cùng những khát khao mộng mị:

"Này cô bé có giọng cười lí lắc
Chim rất hư chưa sáng đã gọi ngày
Nắng từng vạt hong hồn ta ướt nhẹp
Ta ngủ nướng và nhớ em tha thiết"

Cuống quít như ngày thơ. Hối hả như ngày mơ. Hơn ai hết, người làm thơ thẩm nhận được ý nghĩa dâng hiến tuyệt vời từ tình yêu:

"Cám ơn em từ gợn sóng ban đầu
Ta loang động đến vô cùng vô tận"

Nhưng những tiên cảm về sự trắc trở của cuộc tình vẫn bàng bạc suốt Bão Đầy. Vì cũng hơn ai hết, Hà Huyền Chi đã thấm nhừ sự công phá khốc liệt của những cuộc tình oan trái:

"Không em đã đủ bão bùng
Có em đời lại trùng trùng ương oan"

Và đây những vẫy vùng vô vọng trong hạn hẹp khuôn đời. Thế giới hai người vẫn bị chi phối bởi những quy luật cứng nhắc của đời sống:

"Những trì kéo đẩy xô chóng mặt
Lời ma quỷ dỗ dành
Thần lương tri săn bắt
Em ở đâu trong cõi loạn cuồng anh"

Để, này thế gian ta, tình sầu thêm lộng lẫy:

"Em mất anh em có mất gì đâu, ngoài mộng ảo và tháng ngày vô vị. Linh hồn anh từ lâu rồi em ngự trị, ngai tim xưa hoang phế với tình xưa"

Hà Huyền Chi lại đi. Cô đơn. Phiền muộn. Chàng lại đi. Cho tình một thoáng vừa:

"Lại nhúc nhích qua phố người trăm tuổi
Chưa một lần quen tên
Lại đèo cao dốc mỏi
Dặm phiền"

Thế đấy, Hà Huyền Chi khép lại cuộc tình. Thế đấy, Bão Đầy thành tặng phẩm dâng người. Bão Đầy sẽ phù trầm phần mệnh riêng tư, bỏ mặc kẻ làm thơ nằm đau khánh kiệt. Bão Đầy còn gây mê chừng nào người đọc còn soi thấy mình trong đó. Ta thấy ta lang thang vất vưởng giữa Bão Đầy.

Có thể ta đã không đi suốt hết không gian lồng lộng Bão Đầy. Sự trích dẫn nào tránh được phần khiên cưỡng? Bởi ta chẳng hề bận tâm giải mã thi ca. Ta không ép cung thi sĩ. Này, đừng thói lề khảo đả văn chương.

Thế nhưng ta không nhẹ dạ dễ tin. Lẽ nào hơn trăm bài thơ đều long lanh đá quý? Hãy cật vấn thượng đế về đứa con người, tác phẩm đầu tiên trên trái đất! Vậy là ta vất vả truy tìm. Vậy là ta lại đi từ Vào Tập. Bão Đầy. Phải có chứ, điều bất ưng chắc hẳn phải đâu đây!

Và.. Có đấy! Ta xót xa thỏa mãn! Ta cay đắng hả hê! Nhưng, ơ kìa nét bất toàn trên gương mặt Bão Đầy kia lại là...một chiếc răng khểnh. Ồ, một chiếc răng khểnh. Tội nghiệp ta chưa!

Ta không hiểu sao con người hay hững hờ buông vội niềm vui và nhẩn nha gậm nhấm nỗi buồn. Thế làm sao tránh được điều than thân trách phận? Hãy tỉnh táo và công bằng. Thế này: Nếu cuộc đời đã xua đến ta năm bảy niềm đau thì cũng hiến dâng ta đôi ba hạnh phúc. Trong số niềm vui hiếm muộn ta hôm nay, Bão Đầy là một. Thế nên ta đọc chậm. Rất chậm. Bão Đầy.

Thêm một cơn bão vừa tan. Có thể khi viết dòng Đóng Tập, mặt sóng Hà Huyền Chi đã trở lại yên bình nhưng riêng ta vẫn chưa thôi ray rứt. Ta biết anh vừa đủ để hiểu rằng bão đã ngơi đâu bên góc trời hiu quạnh ấy! Mỗi tập thơ ấn chứng một cuộc tình. Hà Huyền Chi đang vô vọng hoàn thành chuỗi tình ca bất tuyệt đời anh. Trong bâng khuâng của bài Đóng Tập ta lại thấy mơ hồ một mắt bão tượng hình. Cái ngột ngạt bất tri trước giờ khai sinh cơn bão mới.

Không sao! Ta không đợi chờ sự chung thủy đời thường ở kẻ làm thơ. Hắn yêu cái đẹp tận mỹ. Hắn tự cưu mang cái sứ mệnh nghiệt ngã nhất là truy tìm và tôn xưng cái đẹp. Biết sao khi cái đẹp hôm qua bây giờ đã phơi trải một dung vẻ bất toàn? Hỡi nhan sắc, ta xin nồng nàn tán tụng vinh quang. Và cũng ngậm ngùi sớt chia cay đắng:

"Em bài thơ ta yêu nhất
Như tình yêu đang tượng hình
Nghìn bài kia hoàn tất
Đã yên mồ, cỏ xanh"

Điều cốt tử với ta, Hà Huyền Chi đã thủy chung như nhất với chính anh. Dù lúc tê dại với Tháng Một Buồn *** khi mê sảng trong cơn Đồng Thiếp *** hay ở đây, cuốn quắt với Bão Đầy.

Tình chiều nay gầm réo bão cuồng. Tình sáng mai hiu hiu gió thoảng. Và cứ thế gió bay đường gió. Và còn đây biển đợi bão cuồng. Ta sẽ chẳng ngạc nhiên chút nào nếu một ngày kia Hà Huyền Chi lại dễ thương phát hiện ra mình:

"Đường tình tưởng đã qua cầu
Lại như thuở mới lần đầu biết yêu"

Ta suy thế vì Hà Huyền Chi vẫn thế. Ta nghiệm ra cũng chỉ bởi một nòi tình. Nếu nơi đây hoang mạc ta còn náo nức mong mưa - mưa không thấm đất - thì góc trời kia Hà Huyền Chi còn hụt hơi gọi bão - mùa bão chưa đầy.

Thôi, chỉ biết nhắn người như nhủ mình: Bảo trọng!

* Bão Đầy thi phẩm thứ 16 của Hà Huyền Chi.
** Tất cả thơ trong toàn bài được trích từ Bão Đầy.
*** Tựa hai tập thơ tình Hà Huyền Chi - Đã xuất bản.

 


ba - ném xuống trăm năm đường gươm chính khí


Chỉ con một khoảng khắc nhỏ nhoi nữa để thời gian vô lượng đóng lại một thiên niên kỷ đen tối. Nếu có điều gì trong một ngàn năm này để con người chính danh hôm nay có thể tự hào thì đó là sự nghiệp xóa sổ vĩnh viễn những chủ thuyết phi nhân.

Không còn gì nghi ngờ về chiến thắng sau cùng của ngọn cờ tự do dân chủ. Cả nhân loại đang tận lực càn quét những hang ổ sau cùng của đế quốc đó. Nhưng trên con đường đi đến chiến thắng toàn diện một cuộc chiến, nhân loại đã vô tâm cắt bỏ một tiền đồn trọng yếu, đã triệt thoái nhục nhã khỏi một tuyến lửa kiêu hùng: Việt Nam, quê hương của những thi sĩ chinh nhân, xứ sở của những bài thơ trên lưng ngựa. Cả một đất nước mỹ miều bị kéo lùi về thuở hồng hoang, thời đại mà lũ quái điểu nhảy lò cò trên mặt đất và loài bò sát gớm ghiếc thay phiên ngự trị.

Để trong thiên địa mang mang ta lại nghe mình ray rứt thêm với một tiếng thơ lưu lạc:

..."Thu nhỏ lệ trong hồn ta vàng võ
Chào mùa đau, chào cuống lá chia cành
Tim khắc khoải giữa mạch sầu chín đỏ
Trán phong trần từng lớp nhớ điêu linh..." **

(Lửa thu)

Tiếng thơ Hà Huyền Chi trong những ngày làm quen với "trại đảo, nhà lều" ấy có chăng chỉ là tiếng thở dài tiếc nuối lặng chìm trong một cõi thương nhớ ngậm ngùi xưa.

"Câu thơ vút ngọn cỏ bồng
Nhớ chăng một thuở kiếm cung ngang tàng

Thù nhà nợ nước chung mang
Những căm ói máu, những toan lệch trời
Thương quê, quê đã mất rồi
Thương thân phiêu dạt, thương trời bại vong

Thơ ta mật ướp từng dòng
Dấu thiên thu hận vào trong điệu vần..."

(Thiên thu hận)

Cơn lốc dữ đã bức tử một dân tộc, nhổ tung gốc rễ từng phận người và ném chúng ta vào một vùng đất xa lạ: Cuộc sống, vốn dĩ không là một cuộc nhàn du, ở quê người lại chập chùng oan trái.

..."Trán gã bại binh nhiều nếp gấp
Núi sông ngày cũ đắng môi cười
Đi đâu tìm được niềm vui thật
Ở kiếp lưu vong, ở xứ người ?"

(Đời đau)

Muôn đời Hà Huyền Chi còn bàng hoàng. Muôn đời chúng ta còn bức bối. Chúng ta có một chính nghĩa không có gì để nghi ngờ nhưng chúng ta đã bị hụt hẫng vì những phương thức tiến hành chiến tranh đầy nghi vấn dẫn đến một thảm bại đầy nghi hoặc. Tâm trạng của Hà Huyền Chi cũng là nỗi ưu tư bức xúc của chúng ta, những kẻ bại binh của một trận chiến không cân sức, những nạn nhân tội nghiệp của kẻ thù gian manh và bạn bè lật lọng.

..."Trời mù khuất lấp chân mây
Bầy chim trốn tuyết lả bay trong chiều
Tan hàng lính cõng quê theo
Thả trôi thân phận bọt bèo đắng cay

Lính buồn trốn giữa cơn say
(Đi đâu mà trốn tháng ngày trống trơn?)
Ngực buồn còn đỏ huy chương
Trái tim đông lạnh từ hôm tan hàng..."

(Đông lạnh)

Một thuở tung hoành. Một thời bó gối. Tráng sĩ dù tự nhủ "lòng vẫn thâm trầm như bóng núi", nhưng tránh sao chỉ thấy đau thương dằn vặt trong từng cảnh đời thường?

..."Vòng vòng quanh chợ mới hay
Hồn ta phế vật ai bày ngổn ngang..."

(Chợ trời San José)

Nhưng đời sống bình thường cũng là một đời sống tầm thường. Lòng chàng trai "một lần quì gối nhận an-pha" ấy một hôm bỗng lại căng lên như dây cung sắp bắn vút vào bốn phương trời mũi tên tang bồng hồ thỉ

..."Trăng núi thanh bình treo trước hiên
Bồ đào mỹ tửu gọi thần tiên
Tự do thừa thãi thành vô nghĩa
Đời bỗng thèm đôi phút bất yên"

(Sương vây)

"Đôi phút bất yên" của chàng trai võ bị Hà Huyền Chi là giấc mơ "làm cơn địa chấn", giấc mơ mà ta thấy trải suốt đời thơ chàng, từ "Saut" Đêm *** đến, sẽ tới đây, Bên Trời Mài Kiếm****

"Lửa hờn thắp đỏ rừng thu
Đỏ trong gân máu hoang vu lỡ thời
Đỏ trong tâm thức vàng mười
Quốc thù chưa trả, làm người được sao ?"

(Lửa hờn)

Nên tráng sĩ lại ra đi. Lại xuống đời. Thanh kiếm thơ lại loang loáng những đường gươm chính khí.

"Tấc gươm chém xuống bạo tàn
Luận thành hay bại e làm bẩn gươm"

(Tiễn đưa)

Hào khí hoa niên đã sống lại, tráng sĩ như thấy một xuân mới đang rạo rực khai mùa trên mặt sông núi cũ

"Xuân đã vào mùa, hoa hé nở
Sử vàng còn đợi kẻ hùng anh
Tự do dân chủ là nguyên tố
Để núi vươn vai, đất chuyển mình"

(Nguyên tố)

Nhưng cuộc chiến mới quả không dễ dàng thuận lợi chút nào. Đã đành kẻ tử thù đã định hình nhưng lại xuất đầu thêm những kẻ nghịch mới, những tên cò mồi, lũ cơ hội, bầy đón gió trở cờ. Trên mặt kính chiếu yêu của Hà Huyền Chi lại lộ diện thêm trăm nghìn bộ mặt gian manh nham hiểm.

"Đường đã mở
Không cam về cúi mặt
Ta nhen mãi mớ than rơm hiu hắt
Gió lên rồi
Gió quẩn ở rừng hoang
Nhiều đóm lửa chưa hợp thành thác lửa
Lũ nhặng xanh vo ve hát múa
Nhịp đa nguyên, bài thỏa hiệp hòa đồng
Chiếu tiệc rải đờm nhớp nhúa
Vẫn bọ dòi lúc nhúc ngồi chung

Ta dị ứng bon chen
Ta coi rẻ tước quyền
Sóng cuồng nhiệt soi đầy ngầm tâm khảm
Dù mặt nổi vẫn lạnh lùng đóng váng
Ta vẫn kiên trì chiến đấu"

(Sóng ngầm)

Kiên trì chiến đấu. Gan góc và gai góc nhưng tiếng thơ Tình nước Hà Huyền Chi mãi mãi là tiếng lòng thuần hậu, thủy chung. Quê hương hiện hữu trong thơ anh mọi nơi, mọi chốn, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

..."Mượn thơ rót chén ly tao
Mượn đau rót thế nhân vào cơn say
Mượn quê rót nỗi đọa đày
Hớp từng ngụm nhỏ khói mây quê nhà"

(Khói mây quê nhà)

Quê hương đã cùng anh trong thiêng liêng tình mẹ

"Hay tin mẹ mất con không khóc
Lệ chảy vào tim, suối não nề
Con mẹ tha hương, sầu trắng tóc
Ngọn nào cho mẹ, ngọn nào quê ?"

(Đóa Vu Lan)

Trong nồng nàn tình cảm lứa đôi

..."Ta bỏ quê hương biệt núi sông
Thân trai nợ nước trả chưa xong
Kiếm cung ném lại ngàn thu hận
Thơ vẫn từng trang rướm máu hồng..."

(Dòng tóc sông xưa)

Trong sắt son nghĩa bạn bè

"Ta mang kiếm gãy lên đường
Chia ngươi ngàn nỗi đoạn trường hôm nay
Thả đời vào một cơn say
Đạp trên sóng cả bão đầy mà đi"...

(Ta về hồn ở Paris)

Một ngày, sau sinh kế, Hà Huyền Chi lại tiếp tục cuộc chiến đơn độc của mình, với "lá cờ vẫn bay hoài trong tiềm thức, nghĩa vụ vẫn đè nặng đôi vai", như sau này anh tâm sự "Cũng vậy," anh tiếp, "tôi gặp lại nỗi đam mê cháy bỏng ở những đêm cặm cụi vật vã với những con chữ trên màn ảnh máy vi tính về một phần đời binh nghiệp đã mất, một chiến trường đã lìa. Qua thơ." Và "Nhiều người đã trách tôi thờ ơ với sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Tôi có đáng trách thật không khi cố tình lẩn tránh một chung tay đóng góp nghiêm chỉnh với đoàn thể. Khi tự biến khỏi những hoan hô đả đảo, những mưu tính tranh đoạt ngôi vị bên ngoài thiên chức của một nghệ sĩ là sáng tác? Tôi không chờ đợi một câu trả lời nào cả. Tôi cần thiết sự cô đơn."****

Từ bao giờ nhỉ, sự cô đơn mà anh cần và anh đã có? "Tôi đã thế từ cái dấu mốc của hai mươi năm về trước." Nghĩa là từ 1975. Từ cái tai biến gây đột tử tháng tư năm ấy. Nghĩa là ngay từ những ngày đầu "trại đảo nhà lều" anh đã ý thức được rằng cuộc chiến, với anh, súng đã gãy, gươm đã cùn, vũ khí duy nhất của anh bây giờ là thơ. Một cuộc chiến thầm lặng nhưng không thể tương nhượng. Một cuộc chiến trường kỳ. Quyết liệt.

..."Da ngựa bọc thây còn chẳng tiếc
Sống trăm năm nữa ích gì quê
Thịt xương khó rã trong mồ tuyết
U uẩn hồn ma khó trở về."

(Đời đông)

Hà Huyền Chi muốn kẻ thù phải chiến đấu trên một chiến trường do anh lựa chọn. Một bãi chiến trường mà anh biết anh mũ mão nguyên nhung. Một trận địa mà anh biết anh ưu thế áp đảo. Thơ. Hình thái chiến tranh có khác đi nhưng bản chất vẫn là cuộc chiến sống mái ấy. Từ Không Gian Vương Dấu Giày. Đến ngày chung cuộc

"Ta chết đừng chôn, chật đất thêm
Cờ vàng, mũ đỏ nếu chưa quên
Xác này đáng đốt bao năm trước
Từ tháng tư buồn đến héo tim"

(Hỏa táng)

Nửa đêm, đọc lại Thơ Trong Da Ngựa, tôi thoáng nghĩ một chút về mình. Đến bao giờ tôi mới là một người đọc đủ trình độ, bản lĩnh để đánh giá một tác phẩm? Tôi chỉ biết đuổi chạy lan man tìm kiếm một chút tình. Tôi đồng cảm với sự cô đơn của tráng sĩ và thanh kiếm thơ mà mặt kính chiếu yêu vừa hiện nguyên hình muôn ngàn khuôn mặt quỷ. Sự cô đơn mà Hà Huyền Chi cần và đã có. Sự cô đơn mà anh biết đó chính là uy lực của anh.

Tôi buồn biết mấy khi nghĩ rằng Hà Huyền Chi đã vất vả biết bao nhiêu khi phải chiến đấu với ý-thức-về-sự-cô-đơn của chàng.

Có người bảo Hà Huyền Chi là người quá khích, tôi đồng ý. Nếu "quá khích" ở đây có nghĩa là cuồng nhiệt thủy chung với lý tưởng đẹp đẽ mà anh đã trực ngộ từ buổi thanh xuân. Nếu quá khích cũng có nghĩa là kiên trì sống mái với kẻ xấu, điều dữ.

Người còn khắc khoải với thơ nên thơ còn với người trăn trở. Thơ chẳng chịu an cư, thơ cùng người xông trận. Người còn trên yên ngựa nên thơ còn trên lưng ngựa. Mai kia, người lúc buông gươm, cũng sẽ về với người, thơ trong da ngựa

..."Thơ bọc trong da ngựa
Cùng sông núi hẹn thề
Ném vào thơ chất lửa
Thơ đọc ngàn sau nghe ..."

(Thơ trong da ngựa)


* Thơ trong da ngựa - tập thơ Hà Huyền Chi - Cung Tên xuất bản 1996.
** Tất cả những chữ, câu, đoạn trong ngoặc kép đều được trích từ Hà Huyền Chi, tập thơ đã dẫn
*** "Saut" Đêm - Tập thơ Hà Huyền Chi 1963
*** Bên Trời Mài Kiếm. Tập thơ song ngữ Hà Huyền Chi - sẽ in 1999
**** Lời vào tập Một Túi Bình Sinh Một Túi Thơ - Tập thơ Hà Huyền Chi - Phạm Thông và thân hữu thực hiện 1996.

Xem Trang 2

 

 

Thơ:

 

Hà Huyền Chi

Kỹ Thuật:

 

Hà Trinh Tiết

Web Design:

 

Hà Phương Hoài
Hoàng Vân

     
 

Thư từ liên lạc hahuyenchi@aol.com
Copyright © 2003 Hà Huyền Chi
Last modified: August 14, 2005