|
|
Hà Huyền Chi, một góc nhìn Nguyên Nhi một
- cái chính tâm kia sẽ mãi là như thế ...Nhớ
tôi đã làm quen với thơ Hà huyền Chi từ lâu
lắm. Từ một sớm mai học trò nào đó
chợt biết bâng khuâng tự cảm về cái bé
nhỏ phận mình, chợt thảng thốt nhận ra
sự đổ vở của thế giới chung quanh,
chợt xót xa chứng kiến bóng hoàng hôn đang phủ
trùm trên những thần tượng một thời. Tôi
đã chép lại thơ anh, những bài thơ thoáng
gặp đâu đó trên những tạp chí mượn
được, bên cạnh những tên tuổi lẫy
lừng đương thời. Niềm tâm cảm của
anh về một cuộc chiến nghiệt oan và những
cuộc tình nghiệt ngã đã theo tôi suốt tháng ngày
binh lửa. Và, một tối không may, quyển vở không
rời ấy đã chìm sâu đáy nước trong
trận phục kích của một trung đoàn đặc
công thủy Việt cộng. Thơ ta thương tích trăm
lần Với
thơ anh, tôi lại "nhớ gì đâu một thuở
rộn đao binh", tôi lại "thấy lửa binh xưa
ở mắt người", tôi lại gặp Đầu sông một gã lính già Hà
Huyền Chi đấy ! Một người lính cổ
điển thuần khiết ! Lãng mạn đến cô
đơn! Hồn nhiên dến khốn khổ ! Người
lính lãng mạn cuối cùng còn sót lại của một
thế kỷ đầy những biến động kinh
hồn. Người lính hồn nhiên trong một cuộc
chiến đầy nghi vấn của một đất nước
kỳ lạ trong một giai đoạn lịch sử
dị thường. Ở thơ anh không có những
triết lý trừu tượng, những ưu tư siêu hình
về chiến tranh, thân phận người đã
từng một thời là món trang sức phù phiếm
của giai tầng trí thức trùm chăn. anh không lý
giải cuộc chiến. Anh không biện giải thái độ
nhập cuộc. Anh chấp nhận chiến tranh như
một thực tại trong một thế giới đã phân
định thiện ác, chính tà. Anh dấn thân mà không
hề để ý hoặc cố tình không biết đến
những mưu toan chính trị hiểm độc sau lưng
người lính. Anh chiến đấu khốn cùng cho
niềm tin tất thắng, cho màu cờ vinh quang, để
rồi xót xa ray rức khi nhận chân rằng vận
mệnh cuộc chiến không nằm trong tay người lính
can trường và đau đớn bàng hoàng khi sự
sụp đổ là định mệnh cay nghiệt dành
cho chính nghĩa dân tộc anh, để hôm nay Tóc xanh giờ đã tiêu nhường
muối Nhưng
đối với người lính già Hà Huyền Chi,
cuộc chiến tranh kia chưa kết thúc. người lính
"nửa đời làm lính giữ quê, quê đau đã
mất lời thề còn đây" ấy vẫn lặng
lẽ "mang kiếm gẫy lên đường",
vẫn Còn trong phế phủ niềm son
sắt Chiến
tranh và tình yêu đôi lứa là hai chủ đề
lớn trong thơ Hà Huyền Chi. Đôi khi, một tập
thơ tình nào đó của anh được lồng khung
trong một khoảng thời gian cố định, như
anh viết "để ghi dấu một mùa đời
nghiệt ngã". Nhưng thực ra không có, không hề có
một ranh phân giữa Hà Huyền Chi - thơ chiến
đấu và Hà Huyền Chi - thơ tình. Tuy hai mà một.
Như nước với mây. Nước là mây đã thành.
Mây sẽ vì đời soi bóng nước. Thân ta đầy đọa trong chinh
chiến Trong
tâm thức người lính khốn cùng và người lính
bất toại ấy, quê hương thương khó trong
thời buổi dị thường này vẫn muôn đời
quay quắt : Những bàn chân giao chỉ Mãi
mãi Hà huyền Chi, người tình son trẻ. Mãi mãi, Hà
Huyền Chi, người lính không già. Kiến thức nông
cạn và kinh nghiệm non nớt không cho phép tôi đánh
giá một tài năng chói sáng. Lại nữa, như anh
viết : "Chữ đôi khi đã không còn mang nghĩa
thông thường. Chữ ngụy trang và nghĩa hóa thân".
Hãy để công việc nhiêu khê đó cho những nhà phê
bình văn học. Họ có quá nhiều lý do để
bận tâm đến anh. Phần tôi, tôi chỉ muốn
trầm mình mê muội trong không gian bát ngát Hà Huyền
Chi. Cảm ơn anh đã xót đời, lụy người,
trang trải hộ chúng ta những sầu muộn khôn khuây,
những niềm đau khôn tỏ. Anh viết : Dù gì cũng khiến ta tan nát Tôi
chưa được biết những câu thơ nào
tuyệt vời hơn thế. Đơn giản mà thâm
trầm. Diễn đời mà đạt đạo. Tôi
bỗng nhớ đến một tinh hoa cổ học.
Chuyện Vua nước Sở đi săn bị mất
cung quý. Phải chăng ngoài nỗi đau quê mất tình
xa, có nghĩa gì đâu những rớt rơi mất mát
đời thường. Phải chăng : Dù gì cũng khiến ta thanh thản Hà
Huyền Chi là một sự kết hợp giữa tài năng
và nhân cách. Cởi mở chân thành với bạn bè, trân
trọng quý mến lớp đàn em, Hà Huyền Chi là
một nơi gởi gấm tâm sự đáng tin cậy
trong một thế giới đảo điên, một xã
hội rã rời, mọi giá trị truyền thống mà
chúng ta hằng tôn quý đang bị thử thách cay
nghiệt. Đọc hà Huyền Chi là đọc lại
đời mình một thuở yêu đương, một
thời chiến đấu. Muội ơi đáy biển bao sâu
hở
Tuyết
rơi từ giữa đêm. Tuyết vắt khăn gai
ngang trán thấp phố xa. Tuyết xây mộ hoang trên
bụi nhỏ đầu hè. Tuyết đóng bưng vườn
trí tưởng mù lãng. Tuyết mở toang rừng cổ
thái tình hoài. Áo ai về sóng sánh trùng khơi. Ôi ngón tay nào
vừa gõ xuống mặt phím bụi mờ ta những ngày
tháng Hai nằm bệnh. Tiếng đàn chùng. Buổi
sáng ả y tá tóc vàng cười lém bên những viên
thuốc nhỏ. Ta lại vật vã mòn hơi bám víu
cuộc sinh tồn. Buổi trưa đến lượt gã
phát thư với mớ giấy má bộn bề. Ta lười
nhác thả mắt qua tên người, tên đất.
Hồi chuông nào vừa quấy động mặt sóng quen
xưa. À ra chung quanh ta vẫn rộn ràng hệ lụy.
Vậy mà đã tưởng dịp này ta có thể
tạm yên ổn thoát ra những vây bủa lưới người.
Để ta có dịp nhìn ta. Cuộc chơi lớn đôi
khi cần thế. Dừng nghỉ một thoáng và đánh
một dấu mốc dưới chân: "Chỗ ta ngồi ngàn xưa người
đã Giữa
cơn phiền muộn tháng Hai này, Hà Huyền Chi lại
lừng lững đến. Vẫn ngất ngưởng
một bầu thế sự. Vẫn ngang tàng một túi bình
sinh. Ta bỗng hân hoan như sợi khói lưng phòng. Ta
chợt háo hức như giọt đen chạm cốc. Hà
Huyền Chi đến. Thư đơn bạc một trang.
Thơ phiêu bồng một tập. Bão Đầy: "Heo hút ngựa người leo
dốc mỏi Giọt
chiều tàn phai thảng thốt rơi xuống lòng
lụa bạch. Đôi nét chấm phá tự họa
của người làm thơ. Sau lưng nhàn nhạt sơn
lâm, trước mặt mờ mờ viễn phố, chàng
kiêu bạc bước ra từ lãng mạn cổ thi: "Nghiêng vai dốc túi bình sinh Rũ
áo phong sương trên đường xa xứ lạ, tráng
sĩ bâng khuâng nghe trời đất sang mùa. Chưa tàn cơn
giá tháng Hai, chàng đã thấy mùa xuân đang âm thầm
mở hội: "Dường như trời đã
vào xuân Cũng
dừng lại đây ngọn gió hoa niên làm tâm bão.
Hội xuân nào huyền hoặc đắm mê xưa. Dáng
kiều hoa lại thướt tha về từ con trăng
binh lửa cũ: "Người từ thanh xuân Và
rung cảm xuân thì đã phục sinh ở hội xuân này,
ở thời gian và nơi chốn mà sự tái ngộ tưởng
là điều bất khả: "Kể từ đánh mất
tuổi xuân Thì
ra tình yêu không chết bao giờ. Tình xanh xa ngoan ngủ
ở vách tim, chỉ tiếng nhỏ thì thầm đủ
rộn ràng kích ngất: "Tưởng đã bình yên trong cõi
tạm Bão
đã nổi! Con sóng nhỏ vong thân đã vươn vai
sau ngàn dậm hải trình, cuộn xoáy đến cạn
cùng những khát khao mộng mị: "Này cô bé có giọng cười
lí lắc Cuống
quít như ngày thơ. Hối hả như ngày mơ. Hơn
ai hết, người làm thơ thẩm nhận được
ý nghĩa dâng hiến tuyệt vời từ tình yêu: "Cám ơn em từ gợn sóng ban
đầu Nhưng
những tiên cảm về sự trắc trở của
cuộc tình vẫn bàng bạc suốt Bão Đầy. Vì cũng
hơn ai hết, Hà Huyền Chi đã thấm nhừ
sự công phá khốc liệt của những cuộc tình
oan trái: "Không em đã đủ bão bùng Và
đây những vẫy vùng vô vọng trong hạn hẹp
khuôn đời. Thế giới hai người vẫn
bị chi phối bởi những quy luật cứng
nhắc của đời sống: "Những trì kéo đẩy xô chóng
mặt Để,
này thế gian ta, tình sầu thêm lộng lẫy: "Em mất anh em có mất gì đâu,
ngoài mộng ảo và tháng ngày vô vị. Linh hồn anh
từ lâu rồi em ngự trị, ngai tim xưa hoang
phế với tình xưa" Hà
Huyền Chi lại đi. Cô đơn. Phiền muộn. Chàng
lại đi. Cho tình một thoáng vừa: "Lại nhúc nhích qua phố người
trăm tuổi Thế
đấy, Hà Huyền Chi khép lại cuộc tình. Thế
đấy, Bão Đầy thành tặng phẩm dâng người.
Bão Đầy sẽ phù trầm phần mệnh riêng tư,
bỏ mặc kẻ làm thơ nằm đau khánh kiệt.
Bão Đầy còn gây mê chừng nào người đọc
còn soi thấy mình trong đó. Ta thấy ta lang thang vất
vưởng giữa Bão Đầy. Có
thể ta đã không đi suốt hết không gian lồng
lộng Bão Đầy. Sự trích dẫn nào tránh
được phần khiên cưỡng? Bởi ta
chẳng hề bận tâm giải mã thi ca. Ta không ép cung
thi sĩ. Này, đừng thói lề khảo đả văn
chương. Thế
nhưng ta không nhẹ dạ dễ tin. Lẽ nào hơn trăm
bài thơ đều long lanh đá quý? Hãy cật vấn
thượng đế về đứa con người, tác
phẩm đầu tiên trên trái đất! Vậy là ta
vất vả truy tìm. Vậy là ta lại đi từ Vào
Tập. Bão Đầy. Phải có chứ, điều
bất ưng chắc hẳn phải đâu đây! Và..
Có đấy! Ta xót xa thỏa mãn! Ta cay đắng hả
hê! Nhưng, ơ kìa nét bất toàn trên gương
mặt Bão Đầy kia lại là...một chiếc răng
khểnh. Ồ, một chiếc răng khểnh. Tội
nghiệp ta chưa! Ta
không hiểu sao con người hay hững hờ buông
vội niềm vui và nhẩn nha gậm nhấm nỗi
buồn. Thế làm sao tránh được điều than
thân trách phận? Hãy tỉnh táo và công bằng. Thế này:
Nếu cuộc đời đã xua đến ta năm
bảy niềm đau thì cũng hiến dâng ta đôi ba
hạnh phúc. Trong số niềm vui hiếm muộn ta hôm
nay, Bão Đầy là một. Thế nên ta đọc
chậm. Rất chậm. Bão Đầy. Thêm
một cơn bão vừa tan. Có thể khi viết dòng Đóng
Tập, mặt sóng Hà Huyền Chi đã trở lại yên
bình nhưng riêng ta vẫn chưa thôi ray rứt. Ta
biết anh vừa đủ để hiểu rằng bão
đã ngơi đâu bên góc trời hiu quạnh ấy!
Mỗi tập thơ ấn chứng một cuộc tình. Hà
Huyền Chi đang vô vọng hoàn thành chuỗi tình ca
bất tuyệt đời anh. Trong bâng khuâng của bài
Đóng Tập ta lại thấy mơ hồ một
mắt bão tượng hình. Cái ngột ngạt bất tri
trước giờ khai sinh cơn bão mới. Không
sao! Ta không đợi chờ sự chung thủy đời
thường ở kẻ làm thơ. Hắn yêu cái đẹp
tận mỹ. Hắn tự cưu mang cái sứ mệnh
nghiệt ngã nhất là truy tìm và tôn xưng cái đẹp.
Biết sao khi cái đẹp hôm qua bây giờ đã phơi
trải một dung vẻ bất toàn? Hỡi nhan sắc, ta
xin nồng nàn tán tụng vinh quang. Và cũng ngậm ngùi
sớt chia cay đắng: "Em bài thơ ta yêu nhất Điều
cốt tử với ta, Hà Huyền Chi đã thủy chung
như nhất với chính anh. Dù lúc tê dại với Tháng
Một Buồn *** khi mê sảng trong cơn Đồng
Thiếp *** hay ở đây, cuốn quắt với Bão
Đầy. Tình
chiều nay gầm réo bão cuồng. Tình sáng mai hiu hiu gió
thoảng. Và cứ thế gió bay đường gió. Và còn
đây biển đợi bão cuồng. Ta sẽ chẳng
ngạc nhiên chút nào nếu một ngày kia Hà Huyền Chi
lại dễ thương phát hiện ra mình: "Đường tình tưởng
đã qua cầu Ta
suy thế vì Hà Huyền Chi vẫn thế. Ta nghiệm ra cũng
chỉ bởi một nòi tình. Nếu nơi đây hoang
mạc ta còn náo nức mong mưa - mưa không thấm
đất - thì góc trời kia Hà Huyền Chi còn hụt hơi
gọi bão - mùa bão chưa đầy. Thôi,
chỉ biết nhắn người như nhủ mình:
Bảo trọng! *
Bão Đầy thi phẩm thứ 16 của Hà Huyền Chi.
ba -
ném xuống trăm năm đường gươm chính
khí
Tiếng
thơ Hà Huyền Chi trong những ngày làm quen với "trại
đảo, nhà lều" ấy có chăng chỉ là
tiếng thở dài tiếc nuối lặng chìm trong
một cõi thương nhớ ngậm ngùi xưa. "Câu thơ vút ngọn cỏ
bồng Thù nhà nợ nước chung mang Thơ ta mật ướp từng dòng ..."Trán gã bại binh nhiều
nếp gấp Muôn
đời Hà Huyền Chi còn bàng hoàng. Muôn đời chúng
ta còn bức bối. Chúng ta có một chính nghĩa không có
gì để nghi ngờ nhưng chúng ta đã bị
hụt hẫng vì những phương thức tiến hành
chiến tranh đầy nghi vấn dẫn đến
một thảm bại đầy nghi hoặc. Tâm trạng
của Hà Huyền Chi cũng là nỗi ưu tư bức
xúc của chúng ta, những kẻ bại binh của
một trận chiến không cân sức, những nạn nhân
tội nghiệp của kẻ thù gian manh và bạn bè
lật lọng. ..."Trời mù khuất lấp chân
mây Lính buồn trốn giữa cơn say Một
thuở tung hoành. Một thời bó gối. Tráng sĩ dù
tự nhủ "lòng vẫn thâm trầm như bóng núi",
nhưng tránh sao chỉ thấy đau thương dằn
vặt trong từng cảnh đời thường? ..."Vòng vòng quanh chợ mới hay ..."Trăng núi thanh bình treo trước
hiên "Đôi
phút bất yên" của chàng trai võ bị Hà Huyền
Chi là giấc mơ "làm cơn địa chấn",
giấc mơ mà ta thấy trải suốt đời thơ
chàng, từ "Saut" Đêm *** đến, sẽ
tới đây, Bên Trời Mài Kiếm**** "Lửa hờn thắp đỏ
rừng thu Nên
tráng sĩ lại ra đi. Lại xuống đời. Thanh
kiếm thơ lại loang loáng những đường gươm
chính khí. "Tấc gươm chém xuống
bạo tàn Hào
khí hoa niên đã sống lại, tráng sĩ như thấy
một xuân mới đang rạo rực khai mùa trên
mặt sông núi cũ "Xuân đã vào mùa, hoa hé nở "Đường đã mở Ta dị ứng bon chen Kiên
trì chiến đấu. Gan góc và gai góc nhưng tiếng thơ
Tình nước Hà Huyền Chi mãi mãi là tiếng lòng
thuần hậu, thủy chung. Quê hương hiện
hữu trong thơ anh mọi nơi, mọi chốn, khi
tỉnh rượu, lúc tàn canh ..."Mượn thơ rót chén ly tao "Hay tin mẹ mất con không khóc ..."Ta bỏ quê hương
biệt núi sông Trong
sắt son nghĩa bạn bè "Ta mang kiếm gãy lên đường Một
ngày, sau sinh kế, Hà Huyền Chi lại tiếp tục
cuộc chiến đơn độc của mình, với
"lá cờ vẫn bay hoài trong tiềm thức, nghĩa
vụ vẫn đè nặng đôi vai", như sau này
anh tâm sự "Cũng vậy," anh tiếp, "tôi
gặp lại nỗi đam mê cháy bỏng ở những
đêm cặm cụi vật vã với những con chữ
trên màn ảnh máy vi tính về một phần đời
binh nghiệp đã mất, một chiến trường
đã lìa. Qua thơ." Và "Nhiều người đã
trách tôi thờ ơ với sinh hoạt văn hóa cộng
đồng. Tôi có đáng trách thật không khi cố tình
lẩn tránh một chung tay đóng góp nghiêm chỉnh
với đoàn thể. Khi tự biến khỏi những
hoan hô đả đảo, những mưu tính tranh đoạt
ngôi vị bên ngoài thiên chức của một nghệ sĩ
là sáng tác? Tôi không chờ đợi một câu trả
lời nào cả. Tôi cần thiết sự cô đơn."**** Từ
bao giờ nhỉ, sự cô đơn mà anh cần và anh
đã có? "Tôi đã thế từ cái dấu mốc
của hai mươi năm về trước." Nghĩa
là từ 1975. Từ cái tai biến gây đột tử tháng
tư năm ấy. Nghĩa là ngay từ những ngày đầu
"trại đảo nhà lều" anh đã ý thức
được rằng cuộc chiến, với anh, súng
đã gãy, gươm đã cùn, vũ khí duy nhất
của anh bây giờ là thơ. Một cuộc chiến
thầm lặng nhưng không thể tương nhượng.
Một cuộc chiến trường kỳ. Quyết
liệt. ..."Da ngựa bọc thây còn
chẳng tiếc Hà
Huyền Chi muốn kẻ thù phải chiến đấu
trên một chiến trường do anh lựa chọn.
Một bãi chiến trường mà anh biết anh mũ mão
nguyên nhung. Một trận địa mà anh biết anh ưu
thế áp đảo. Thơ. Hình thái chiến tranh có khác
đi nhưng bản chất vẫn là cuộc chiến
sống mái ấy. Từ Không Gian Vương Dấu Giày.
Đến ngày chung cuộc "Ta chết đừng chôn,
chật đất thêm Tôi
buồn biết mấy khi nghĩ rằng Hà Huyền Chi
đã vất vả biết bao nhiêu khi phải chiến
đấu với ý-thức-về-sự-cô-đơn
của chàng. Có
người bảo Hà Huyền Chi là người quá khích,
tôi đồng ý. Nếu "quá khích" ở đây có
nghĩa là cuồng nhiệt thủy chung với lý tưởng
đẹp đẽ mà anh đã trực ngộ từ
buổi thanh xuân. Nếu quá khích cũng có nghĩa là kiên
trì sống mái với kẻ xấu, điều dữ. Người
còn khắc khoải với thơ nên thơ còn với người
trăn trở. Thơ chẳng chịu an cư, thơ cùng
người xông trận. Người còn trên yên ngựa nên
thơ còn trên lưng ngựa. Mai kia, người lúc buông
gươm, cũng sẽ về với người, thơ
trong da ngựa ..."Thơ bọc trong da ngựa * Thơ trong da ngựa - tập thơ Hà Huyền Chi - Cung Tên xuất bản 1996. ** Tất cả những chữ, câu, đoạn trong ngoặc kép đều được trích từ Hà Huyền Chi, tập thơ đã dẫn *** "Saut" Đêm - Tập thơ Hà Huyền Chi 1963 *** Bên Trời Mài Kiếm. Tập thơ song ngữ Hà Huyền Chi - sẽ in 1999 **** Lời vào tập Một Túi Bình Sinh Một Túi Thơ - Tập thơ Hà Huyền Chi - Phạm Thông và thân hữu thực hiện 1996.
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thư từ liên lạc
hahuyenchi@aol.com |