| Home  | Tiểu Sử HHC | Thả Gió Bay Đi | Mục Lục | Từ Thơ Đến Nhạc |
HHC - Nhánh Nhỏ Giao Cảm | Thơ Ghé 1 Chân | Hot Links  |

| English | Audio & Video | Dịch Mậu Binh | Thơ Chuyển Ngữ | Suối Thơ |
|
Góc Thơ HHCTác Phẩm HHC Thơ Mậu Binh |  Trang Đặc Biệt | Thư Tín  |


 HHC

 
 
Ha Huyen Chi
 Mau Binh
Số
Phác Thảo Bộ Phim Văn Sử
Con Tiên Cháu Rồng
Mời vào trang

Mục Lục Thơ Mậu Binh ABC

Mục Lục Thơ Mậu Binh Theo Từng Tập

&

VNI

Thơ Tình Yêu, Tình Nước:
 
Thơ là gì? Chúng ta đã có cả ngàn định nghĩa khác nhau về thơ. Có người nói thơ là tinh mật của ngôn ngữ, là đỉnh cao của văn chương, là ma túy của cơn say lãng mạn, là bùa phép của chữ nghĩa, là đồng thiếp của đam mê, là viển vông của mơ mộng phù phiếm. Thêm hoặc bớt đi vài định nghĩa đều vô hại. Có thời, thi sĩ được ngưỡng mộ tôn vinh như thần thánh. Có thời, người ta choàng hoa cho thi sĩ và đuổi hắn ra khỏi thành phố. Dù được tôn vinh hay bị xua đuổi, thi sĩ vẫn làm thơ. Như bông hoa tới kỳ phải nở. Như con sâu hóa bướm nhởn nhơ. Như con chim hát cho thông cổ. Như con tằm rút ruột nhả tơ.
Thơ Tình Yêu
 
Ở đây, chúng tôi xin được nói đến, mở ra, hai thể loại: Thơ tình yêu, và thơ tình nước. Một cái ở hằng cửu. Cái kia chỉ một thời.
Tuy nói là hai thể loại khác nhau, nhưng không dễ gì chúng ta phân loại được Bởi trong thơ tình yêu đôi khi cũng mênh mang tình nước, và trong thơ tình nước vẫn có đằm thắm tình yêu.
 
Như trường phái ngâm vịnh, thù tạc, thơ chỉ bắt hứng từ những cảnh trí phong hoa tuyết nguyệt. Sau hũ lớn, cút nhỏ, sau chén bác chén tôi. Thơ cất cánh từ những giao thoa giữa tâm người, và sơn, và thủy. Thơ khề khà bốc lên từ hơi men. Sau chén chú, chén anh...
 
Thơ tình yêu hiển nhiên cũng phải bắt nguồn từ một đối tượng. Từ một ánh mắt, nụ cười, đã khiến cho thơ trôi, thơ chìm. Thơ thăng hoa, và thơ tự ải. Ðối tượng thường khi là thật, nhưng ngẫu hứng có thể giả tưởng, thậm xưng. Từ đó ta mơ màng đồng thiếp. Ta hy vọng và ta tuyệt vọng với người, qua thơ, bằng thơ. Là chân hay giả còn tùy vào cơ duyên của mỗi thi sĩ. “Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung”, Lý Bạch đấy, khi phóng bút tán dương nàng Dương Quý Phi của Ðường Minh Hoàng thế đấy. (Trông mây mà ngỡ áo nàng/ Ngắm hoa tưởng đến dung nhan diễm kiều/ HHC)
 
Dĩ nhiên không ai cấm thi khách tưởng tượng khi sáng tác. Nhưng thi khách không nên, không thể tự tiện gán ghép, gây ngộ nhận với độc giả với người đối tượng dù được minh danh, hay ám thị.)
Trên căn bản ấy, thơ tình của tôi được hình thành, ghi nhận, như những kỷ niệm quý hiếm để cám ơn người, và cũng để cám ơn đời Những người đối tượng trong thơ tôi, dù đôi khi đã minh danh, hay chỉ bằng một tiếng em, tiếng nàng, xin được coi như là những nhân vật giả tưởng, tá hình.
Sau đây là phần trích dẫn một vài nét khai phóng trong thơ tình yêu của tôi. Em là cái gì? Và dưới mắt em, tôi lại là cái gì chứ? Có em ta có chân dung
Không em ta có cái không có gì...
(Tháng Một Buồn, HHC)
 
Ta thánh thiện và ta quân tử với em. Ta hứa với em đủ điều, nhưng tận cùng của nỗi đam mê bốc lửa, ta vẫn chỉ là ta với ước ao chiếm đoạt:
Ta không là quỷ là ma
Nhớ em cũng thấy lòng tà dấy lên
Ta dù là thánh là tiên
Thương em rồi cũng hại em một lần. (Ðồng thiếp, HHC)
 
Ở một cuộc tình không ngõ thoát, ta chấp nhận thương đau, ta vinh danh bẽ bàng:
Ta đội sao đạp bóng
Trồng đôi cây bẽ bàng
Ðể mai sau mắc võng
Ru mối sầu đăng quang. (Tháng Một Buồn, HHC)
 
Những đêm mưa buồn Tây Bắc, ta nhớ em thê thảm. Ta tần ngần lôi hình em ra ngắm. Và ta lén lén hôn vụng môi em:
Ngắm hoài một nét môi cong
Có là ông Bụt cũng lòng ngẩn ngơ. (Ðồng Thiếp, HHC)
 
Em lãng mạn đến với ta như một cuộc rong chơi, nhưng đã khiến hồn ta giao động. Như nhã nhạc dặt dìu từ cây đàn hoang phế. Em đến rồi đi, nhưng còn mãi nơi ta mối cảm hoài:
Khách lạ bỏ đi, vệt son ở lại
Trên môi khô nhăn, trên trán gợn sầu
Từ đó lòng ta với đàn ngây dại
Ðàn nhớ tay người, người nhớ hơi nhau. (Tháng Một Buồn, HHC)
 
Cuồng nhiệt, không là nét đặc trưng chỉ có ở lớp trẻ. Tuổi già có đam mê bỏng cháy của tuổi già. Bởi trái tim vốn không tuổi:
Ta vướng đam mê, vấp nhiệt cuồng
Muốn cùng trên chót đỉnh yêu đương
Muốn cho cả cái ta không có
Nên khổ trường giang, nhớ núi non. (Tháng Một Buồn, HHC)
 
Chiếc huy chương nào cũng có mặt trái, phẳng và vô nghĩa. Tình yêu cũng vậy, có những hoa tươi và trái héo khiến lòng ta te tua:
Em ngọt lừ tinh mật
Cũng chua lè dấm thanh
Em là ma, là Phật
Ðang vầy vọc hồn anh. (Tháng Một Buồn, HHC)
 
Ta thánh thiện và ta phàm tục trong tình yêu. Không hề gì, nếu như ta đã biết yêu người với cả tấm lòng. Và ta sẵn sàng chấp nhận mọi hệ lụy:
Ta vẫn tu nhưng chẳng cạo đầu
Khi chay, khi mặn có sao đâu
Tim ta em giữ từ khi gặp
Mỗi độ xuân về ngực trống đau. (Ðồng Thiếp, HHC)
 
Ta yêu đã đủ chưa? Ta nói đã đủ chưa, về tình yêu, với ngôn ngữ thi ca? Ta hạnh phúc với cam và khổ, với ngọt và đắng. Và đôi khi ta ngỡ ngàng nhận ra. Thế vẫn còn chưa đủ:
Một chữ yêu thôi, nói chẳng cùng
Bao nhiêu cam khổ, một đời chung
Em ơi hạnh phúc khi hoa nở
Hạnh phúc còn trong vị đắng lung. (Tháng Một Buồn, HHC)
 
Ở thi tập Tháng Một Buồn là 100 bài thơ được viết ra trong 120 ngày, bằng thứ tình yêu giông bão. Thơ viết bằng trái tim nổi loạn, nhưng thuần khiết. Thánh thiện , nhưng hoang đàng. Như một ấn chứng tình yêu và dấu tích của tác giả với cùng người đối tượng.
 
Ở Ðồng Thiếp, là 100 bài thơ tình hận, trái đắng. Về cái mặt trái của tấm huy chương dành cho tình yêu. Những nhát chém vô hình. Những vết thương trí mạng. Những quay lưng, giả trá phũ phàng khiến đau lòng chữ nghĩa, khiến bút mực bẽ bàng.
Và giông bão đằm thắm, sẽ chỉ thực sự tìm thấy ở 100 bài thơ tươm mật, trong thi phẩm Bão Ðầy Những khát khao bỏng cháy trong nghịch cảnh. Những ước muốn dị hình, mãi chỉ là ước ao:
“Anh thèm là chiếc nhẫn
Trói em vào đời riêng
Anh thèm cơn lú lẫn
Quên cuộc đời, trừ em. (Bão Ðầy, HHC)
 
Tôi bất chợt gặp lại cô bé khờ khạo ngày xưa với những nét kiều mị bây giờ:
“Mắt nàng soi thấu tim ta
Cánh môi kiều mị, cánh hoa truy hồn
Ngực đầy, cổ lọ, vai thuôn
Vòng tay bạch lạp, vòng ôm hải hà
 
Thật gần, nàng cũng thật xa
Vuông khăn nhốt gió, nhốt ta bão đầy.”
(Bão đầy, HHC)
 
Ðằng sau cái lung linh rực rỡ của bảy sắc cầu vồng kia là những đám mây phiền muộn dự báo tai ương sẽ tới, phải tới:
“Không em đã đủ bão bùng
Có em đời lại trùng trùng ương oan”
(Bão Ðầy, HHC)
 
Bài thơ ngắn sau đây đã đủ nói hết cuộc tình dài từ thuỷ đến chung. Từ cái khởi đầu ngờ nghệch của chàng trai mới lớn đến cái thống hối một đời:
“Em xanh lắt lẻo tầm tay
Anh chê em nhí, em gầy, em hoi
Sau vài tháng hạnh, năm vui
Em xinh như mộng, em cười như hoa
 
Nhưng là hoa của... người ta
Ngàn thu thống hối cũng ra lề đời. (Bão Ðầy, HHC)
 
Kể như mắt bão đã khởi đi từ những thống hối, oan ương thế đó. Tình còn lại cho nhau những hạnh phúc đắng và men sầu. Nàng vẫn còn đầy nét hồn nhiên thơ dại, nhưng chàng đã gai góc cùng mình:
“Một em đôn hậu thật thà
Một anh quỷ quái tinh ma đến điều
Văn chương mạt nghệ, đời chiều
Mà xem tai tiếng hơn nhiều tiếng tăm.)
(Bão Ðầy, HHC)
 
Và thế đó, Bão Ðầy được hình thành, 100 bài thơ là 100 mũi nhọn nhói buốt tim người. Ở lúc vui khi buồn, lúc gần, khi xa. Kẻ cho và người nhận đều hào sảng như nhau. Nhưng luôn trong cương giới đời thường. Luôn là một dấu hỏi bi thương giữa dòng mê đắm:
“Bây giờ em hối hận chưa? Gặp hay không gặp cũng thừa nghiệt oan”
(Bão Ðầy, HHC)
 
Và sự nổi loạn của đam mê cao độ, với chữ nghĩa diễm tình không dừng la.i ở đấy. Nó tiếp nối, cùng khắp trong các thi phẩm đã hoàn chỉnh có hay chưa đặt tên như: Sóng Ngầm, Ðá Biết Tuổi Vàng, Người Mãi Nhớ Người... vân vân...
 
Hầu như mỗi ngày tôi đều có những thời khắc riêng dành cho thơ. Vào lúc quá độ, tôi từng viết bảy bài thơ trong một ngày. Ðiều đáng lưu ý là từ cuốn Bão Ðầy, thơ được viết riêng cho một nhân dáng mới, và đã ở bài thứ 504. Con số sẽ không dừng lại ở đó. Tôi sẽ vượt qua, đi tới không ngừng. Tôi tiếp tục chạy thì đúng hơn. Dù chẳng đuổi ai, và cũng không thấy ai đuổi mình.
Thật cám ơn những thi khách đã dành cho thơ tôi một vị thế ưu ái khác thường Tôi cũng không phiền hà gì những người không thích thơ tôi. Có sao đâu, bởi mỗi người một ý. Bởi dẫu được yêu mến, hay bị ghét bỏ, tôi vẫn phải tiếp tục làm thơ. Phải làm thơ như một cái nghiệp sẵn dành.
Thơ Tình Nước:
 
Thuở vào đời, tôi làm thơ để ca ngợi tình yêu. Thơ phấn son, và thơ hoa bướm. Thuở vào lính, tôi làm thơ ca ngợi chiến công, vinh danh cuộc chiến diệt thù giữ nước. Thơ có hoa cài mũi súng, đêm trăng hỏa châu, và mưa pháo xuống đồn. Thuở lưu đầy, tôi làm thơ giữ lửa nuôi hờn. Có thơ nằm gai nếm mật, thơ nhớ nước thương nòi, thơ bọc trong da ngựa. Thơ chảy máu trong từng ý nghĩ tự thân. Thơ tình nước, hay thơ chiến đấu của tôi cũng cuồng nhiệt và nổi loạn không kém. Cái khó là tránh được trong thơ những ngôn từ sáo rỗng, ước lệ, những ngôn từ khẩu hiệu và cả tiếng va chạm của gươm đao:
 
Thiếu quê đời bỗng dưng thừa
Hồn ta trái héo từng giờ buồn lay
(Ðời Bỗng Dưng Thừa, HHC)
 
Giưã Thơ Tình Yêu và Thơ Tình Nươc hầu như không có một ranh giới nào cho hai thể loại này. Chỉ là một cách gọi. Bởi trong Thơ Tình yêu cũng đôi khi thắm thiết tình nước, và Thơ Tình Nước cũng nồng nàn tình yêu.
 
Thơ Tình Nước thực ra không kén chọn đề tài cho lắm. Cỏ cây, muông thú đều có thể dự phần. Chỉ khó ở góc nhìn và cách nhìn. Như khi chụp một tấm ảnh, bố cục sắm một vai trò quan trọng không kém đề tài. Người ảnh như người thơ, cần làm nổi bật chủ đề. Vì thế, thơ cần được đào sâu hơn ở lối viết, lối nghĩ. (Như đôi khi phải từ trong tấm ảnh chụp ra.)
 
Thơ ta mật ướp từng dòng
Giấu thiên thu hận vào trong điệu vần
Thơ ta thương tích trăm lần
Mật hay rượu ướp cũng ngần ấy đau. (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Người làm thơ tình nước, nhìn cảnh, nhìn đời, bằng tâm thức riêng của nỗi sầu muộn không đáy. Xin hãy nghe tâm cảnh người lưu xứ ở lúc xuân phân:
 
Xác hoa lắt lẻo cành non
Tưởng đâu cánh bướm chập chờn muốn bay
Ta còn đủ cả chân tay
Tưởng đâu suốt cuộc đời này phế nhân. (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Dăm hạt sương sớm trên đầu cành hạ chí đã lấp lánh trong thơ sầu, khiến trời đất buồn lây:
 
Cành khô ngậm hạt sương mai
Tưởng đâu hạt nhựa chảy ngoài cơn đau
Gốc đời đã bứng từ lâu
Phiến rêu hồi tưởng xanh mầu sơn lâm
Hạt sương lóng lánh khi gần
Mới hay hạt lệ mang tâm sự trời. (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Vào thu, khi băng ngang những khu rừng lá vàng ươm, rừng cây phong lá đỏ rực, ta bỗng trạnh lòng nhớ quê, nhớ thù:
 
Lửa hờn thắp đỏ rừng thu
Ðỏ trong gân máu hoang vu lỡ thời
Ðỏ trong tâm thức vàng mười
Quốc thù chưa báo, làm người được sao? (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Hoặc đôi lúc bi phẫn hơn:
 
Ôm tay bánh, ôm nỗi buồn viễn xứ
Rừng vàng thu, ngày hai buổi đi qua
Ta đôi lúc muốn trở thành dã thú
Quên một lần cuống rốn rụng quê nhà. (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Ở những cuối đông, ta giáp mặt với nỗi nhớ quê điếng lòng, lúc tết đến xuân về. Cái lạnh ở trong lòng kẻ lữ thứ không thua gì băng tuyết ngoài trời trong thời khắc giao mùa:
 
Thắp hương vọng nhớ quê nhà
Bài thơ khai bút nến pha lệ hồng
Cành khô tuyết phủ giấc cong
Hồn ta sợi khói bay trong cõi hàn
(Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Ta buồn với thời tiết nắng mưa. Ta ký thác niềm đau nỗi nhớ vào cỏ cây hoa lá. Ta cũng gửi tâm sự vào muông thú quanh đời:
 
Bầy quạ ngậm hạt dẻ
Thả rơi xuống lòng đường
Nếu như hạt không bể
Nhờ xe qua cán dùm
 
Ta có trăm hạt sầu
Vướng trong họng từ lâu
Chờ bánh xe thiên cổ
Lặng lẽ cán ngang đầu. (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Cá Hồi lội ngược về nguồn
Gặp khi suối cạn phơi xương giữa dòng
Người theo vận nước long đong
Người trong bụng cá con mong ngày về. (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
Ngày nghỉ cuối tuần, người di tản sầu đời bèn xách theo một sâu bia lạnh, vài gói mồi. (Cho người và cho cá.) Chọn một chỗ ngồi thoải mái bên sông. Ta thư thả buông cần và ta nhâm nhi mối sầu quê:
Ngựa Hồ ngóng gió lưng đồi
Cất cao tiếng hý ngậm ngùi cỏ hoa
Ðầu sông một gã lính già
Ôm cần, câu cái nhớ xa, buồn gần. (Thơ Trong Da Ngựa, HHC)
 
“Giật hăm hở mấy lần đều hụt hẫng
Lại đợi chờ, lạt trắc nghiệm lòng kieÁn
Ta caÁu được dăm mãnh đời lỡ vận
Như ngày đầu từng bẽn lẽn trao em”
(Một Túi Bình Sinh... HHC)
Ðó là những lúc hồn ta trầm mặc trong cõi buồn miên viễn Ðôi khi ta bất mãn với đời, và ta phẫn nộ bằng thơ, không nguyên cớ:
Chửi toang cho hả cơn phong ngứa
Lại nghiến răng mang thập giá đời. (Ðời Bỗng Dưng Thừa, HHC)
 
Từ cơn bão tự do thổi ngã bức tường ô nhục Bá Linh, Mậu Binh giằng lấy cây bút trong tay Hà Huyền Chi, phăng phăng vượt lên tuyến xung kích. Thơ vỗ mặt lên nòng. Ðạn lân tinh bắn tới. Vần điệu là kẽm gai. Bút nhọn như khí giới.
 
Sau cuốn Thơ Ðen, 1991, là Thơ Kẽm Gai, 1994 để phân định cương giới bạn thù, người ngợm. Với khoảng 400 bài thơ rực lửa căm phẫn, đánh vỗ mặt lũ đỉnh ngu Việt Cộng, Việt gian và Việt rởm. Thơ bắn trực xa, đâm lút cán, đủ mặt, không khoan nhượng. Không chừa một mống. Dù những tập biếm thi này đã kể như đã tuyệt bản, Tôi mong sẽ có dịp nói riêng về gã Mậu Binh qua lối thơ chém đinh chặt sắt này.
Thơ tôi đã trên dàn phóng, đã hầu như không còn thuộc về tôi Xin hãy cho chúng một cơ hội bầy tỏ như một giao tình giữa thi sĩ và thi khách còn nặng lòng với thơ.
Hà Huyền Chi
 
 

Thơ:

 

Hà Huyền Chi

Kỹ Thuật:

 

Hà Trinh Tiết

Web Design:

 

Hà Phương Hoài
Hoàng Vân

     
 

Thư từ liên lạc hahuyenchi@aol.com
Copyright © 2003 Hà Huyền Chi
Last modified: August 14, 2005