|
| |
- Các Khuynh Hướng Thi Ca
- Việt Nam Hải Ngoại
- hà huyền chi
-
- Như quư vị đă biết, tôi chỉ là
một người làm thơ. Viết thêm dăm mười
bài thơ, vài trăm câu thơ, điều ấy
thật dễ đối với tôi, thế nhưng quư
vị đặt tôi vào vị trí của một nhà
nghiên cứu, biên khảo về thơ th́ dường
như quư vị đă chọn lầm người, sai
chỗ rồi đó. Hơn nữa, “Các khuynh hướng
thi ca Việt Nam Hải Ngoại” là một đề
tài rộng lớn, thật không dễ ǵ gói ghém nó
trong ṿng 60 phút đồng hồ. Thế nên những
ǵ tôi sắp tŕnh bầy cùng quư vị, có thể là
rất chủ quan, phiến diện, nhưng tôi cũng
xin cố gắng đóng góp phần ḿnh như
một yếu tố để chúng ta cùng t́m hiểu
thêm.
-
- Quư vị thức giả, và những thi khách
yêu thơ thường quan tâm t́m hiểu về các
khuynh hướng thi ca Việt Nam, hay Việt Nam
Hải Ngoại có ǵ mới lạ? Trong một
dịp phỏng vấn của chương tŕnh Văn
Học Nghệ Thuật Liên Mạng mới đây, tôi
đă trả lời nhà thơ Lê Tạo rằng: Trước
1975 Cộng sản miền Bắc không có văn
học. Sau 1975 Việt Nam không có văn học.
Thế nên văn học Việt Nam Hải Ngoại là
tất cả những ǵ chúng ta có, kể từ khi
đất nước bị chia đôi, nhuộm đỏ.
Trong đó thi ca là một bộ môn nổi trội,
sinh động nhất.
- I.Những
nguồn sáng tạo thi ca Việt Nam Hải ngoại:
-
- Muốn t́m hiểu khuynh hướng thi ca
Việt Nam Hải Ngoại chúng tôi thấy cần
thiết lưu tâm đến ba nguồn sáng tạo chính
sau đây:
- A- Các nhà sáng tạo đă thành danh trước
1975. (Bao gồm cả những nhà văn, kịch tác
gia, biên khảo gia bỗng làm thơ, hoặc có in thơ
ở cuối đời.)
- B- Các nhà thơ mới. (Những người
đă có tác phẩm tŕnh làng sau 1975.)
- C- Các cây thơ đang phát triển.
-
- Đi vào chi tiết qua lối phân loại này
chúng ta thấy sau những biến động chính
trị 1975 đă ảnh hưởng tới các thành
phần sáng tác ra sao:
- Những nhà thơ trước
1975:
-
- A1/ Tác động tâm lư và thời sự quá
mạnh, và biến thái hoàn cảnh khung cảnh sinh
sống mới nơi xứ người, khiến
một số lớn các nhà thơ thành danh trước
1975 đă ngưng trệ sáng tác, hoặc ngưng
hẳn. Chỉ c̣n một số nhỏ vẫn cố
gắng đi tiếp con đường chông gai
của thơ nơi xứ người. (V́ vấn
đề tế nhị, chúng tôi xin miễn được
nêu danh tánh của quư vị ấy ở đây.) Cũng
giống như hầu hết các nhà văn phản kháng
Nga bị cưỡng bức tống xuất khỏi nước
ở 1972 đă không c̣n sức sáng tạo đáng
kể nơi các nước tự do.
- A2:Tuyển tập: Một số thi khách
đă có những cố gắng cho thơ, dưới
h́nh thức tuyển tập. Như nhà xuất bản
Quê Hương, 1978, ở Gia Nă Đại với 60 tác
giả. Văn Hữu, 1981, ở Texas với 66 tác
giả. Sông Thu, 1985, ở Cali với 60 tác giả thơ
văn. Phong Trào Thanh Niên Hành Động Xă Hội, 1985
ở Pháp với 74 tác giả. Khai Trí, 1993, ở Cali
với 140 tác giả... (Trong khả năng sưu
tập hạn hẹp, nếu có thiếu xót thi
tuyển nào, xin quư vị thứ lỗi cho. Chúng tôi
xin được miễn kể đến những
tuyển tập riêng của các thi nhóm.)
-
- Trong những tuyển tập này th́ Sông Thu
cho thấy có giá trị văn học hơn cả.
Những tập kia chỉ là h́nh thức con buôn, bè phái.
-
- Con buôn v́ tự động lấy thơ người
khác in bán. Nhiều tác giả không được
hỏi qua và cũng không được lựa bài
ưng ư. Có trường hợp sưu tầm gia lôi
những bài cũ trước 1975 ra tự động
in. Có trường hợp bài của ông A được
gán cho ông B...
-
- Bè phái v́ cố ư nhét tên ḿnh, và bằng
hữu vào chung chiếu ngồi với các nhà thơ
đă thành danh. Nhiều nhà văn chỉ có 1,2 bài thơ
cũng được nhét vào danh sách nhà thơ. (Theo
tôi, được coi là thi sĩ, ít nhất nhà thơ
cũng cần có một thi tập đă ấn hành,
phổ biến rộng răi, công khai.)
-
- A3/ Một số nhà biên khảo, kịch tác
gia, nhà văn khác chọn thơ như một thử
thách, đóng góp của họ cho vui... Điều này
được kể như là những cố gắng
vắt cho kiệt nguồn tâm năo của một
nghệ sĩ, mong để lại một chút ǵ cho
hậu thế. (Dù không thành công cũng chẳng thành...
thơ)
-
- A4/ Đặc biệt nhất là có một
số nhà văn đă có những cố gắng
ngoạn mục như: Cao Tần, Thanh Nam, Duyên Anh, Mai
Thảo... đă in thơ ở lúc cuối đời.
Họ đă đi xuôi theo tiến tŕnh sáng tác. Đi
từ dễ nhất tới khó nhất. (Nghĩa là
từ văn xuôi, truyện dài, truyện ngắn
rồi mới tới thơ.) Điều thích thú là
họ đă có những thành công đáng kể trong lănh
vực này. Để thi khách có một cái nh́n rơ nét hơn,
tôi xin được trích dẫn một đôi bài tiêu
biểu của những nhà thơ vừa kể. Căn
cứ theo thứ tự thời gian các thi tập
ấy chào đời.
-
-
- Tôi có trong tay tập thơ Cao Tần do Tin Yêu
tái bản ở 1984 gồm 20 bài (thêm 2 bài mới, dường
như cuốn đầu được in ở 1982?).
Có thể nói rằng đây là tập thơ mỏng
nhất nhưng cũng gây sôi nổi nhiều nhất
nơi thi đàn thời ấy:
- Ta Làm Ǵ
- Cho Hết Nửa Đời
Sau
-
- Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện
lớn
- Gánh sơn hà toan chất thử lên vai
- Chuyện binh lửa anh em chừng cũng
ớn
- Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ
ba chai
-
- Rừng đất khách bạt ngàn màu áo
trận
- Xong hiệp đầu mây núi đă bâng khuâng
- Hào khí bốc đủ mười thành
chất ngất
- Chuyện vá trời coi đă nhẹ như
không
-
- Một tráng sĩ vung ly cười ngạo
mạn
- “Nửa đời xưa ta trấn thủ
lưu đồn
- Nay đất khách kéo lê đời rất
nản
- Ta tính sẽ về vượt suối trèo
non...
-
- Sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển
động
- Những hùm thiêng cựa móng thét rung
trời
- Và sông núi sẽ vươn ḿnh trỗi
dậy
- Và cờ bay trên đất nước xinh tươi.”
-
- Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối:
- “Thần tự do giờ đứng ở nơi
nào?
- Ta muốn đến leo lên làm đuốc
mới
- Tự đốt ḿnh cho lửa sáng xem sao...
-
- Thần tự do dơ hoài cây đuốc
lạnh
- Ta tiếc ǵ dăm chục kư xương da
- Sẽ làm đuốc soi t́m trong đáy
biển
- Những oan hồn ai bỏ giữa bao la...”
-
- B́nh minh tới một chàng bừng tỉnh
giấc
- Thấy chiến trường la liệt xác
anh em
- Năm tráng sĩ bị mười chai
quất gục
- Đời tha hương coi bộ vẫn êm
đềm
-
- Sàn gác trọ những tâm hồn băo nổi
- Những hào hùng uất hận gối lên
nhau
- Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nh́n nắng
mới:
- “Ta làm ǵ cho hết nửa đời sau”...
- Tháng 3, 1977
- Cao Tần
-
- Thư Quê Hương
-
- Thư quê hương như tên hề ốm
nặng
- Hồn tang thương sau mặt nạ tươi
cười
- Son phấn hân hoan phủ ngh́n cay đắng
- Mắt lệ đầy miệng hát
những lời vui
-
- Ta biết thư em vượt muôn cửa
ải
- Mắt sài lang soi nát cả linh hồn
- Em chẳng được khóc cùng ta bằng
chữ
- Th́ gửi chi dăm khẩu hiệu buồn
nôn
-
- Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già
- Rụng âm thầm trên hiên chiều hiu
quạnh
- (Nuôi một bầy con cuối đời
vẫn lạnh)
- Cho anh hôn ơn nặng một thời xa
-
- Anh muốn thở mùi nhọc nhằn nô
lệ
- Gửi cho anh mảnh áo rách con thơ
- Con chào đời, ta rừng sâu lính trẻ
- Ta non cao, con tập nói u ơ
- Giờ bước đầu đôi chân non
vấp ngă
- Sao nâng con qua triệu lớp sương mù
-
- Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
- Anh sẽ đọc ra trăm ngh́n lối cũ
- Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương
- Anh sẽ đọc đất trời ta
đă thở
-
- Và gửi cho anh một tờ giấy
trắng
- Thấm nước trời quê qua mái dột
đêm mưa
- Để anh đọc: mênh mông đời
lạnh vắng
- Em tiếc thương hoài ấm áp gối
chăn xưa.
- Tháng 4, 1977
- Cao Tần
-
-
- Thanh Nam có 20 năm viết văn, làm báo
ở Sài g̣n và khoảng 10 năm viết văn làm báo
tại Hoa Kỳ. Ông mất cách đây khoảng
gần chục năm. Với Duyên Anh và Mai Thảo,
họ là một số ít những nhà văn một
đời sống chết cho chữ nghĩa.
-
- Tập thơ Đất Khách của Thanh Nam
gồm 17 bài, với 6 bài làm ở quê nhà. In năm
1983. Xin trích dẫn hai bài tiêu biểu của Đất
Khách:
- Đêm Cuối Năm
- Uống Rượu
Một ḿnh
-
Tặng Ngọc Dũng
-
- Rượu mời ta rót cho ta
- Bạn gần không tới, bạn xa chưa
về
- Rót nghiêng năm tháng vào ly
- Mắt nheo bóng xế, tay che nỗi buồn
- Rót đầy băng giá cô đơn
- Rót thao thức nhớ, rót hờn giận quên
- Thôi, đừng. Thôi hăy nằm yên
- Ngủ ngoan đi nhé cơn điên thuở nào
- Cho ta với bóng cùng nhau
- Ngất ngư rót măi tỉnh vào cơn say
- Bốn mươi lăm tuổi rồi đây
- Lá xanh c̣n được bao ngày phù du?
- Rót đau thân thế mơ hồ
- Nửa khôn ngoan thức, nửa rồ
dại mê
- Ngó đời lăn lóc ṿng xe
- Ră rời xích chuyển ê chề bánh quay
- Ngó lui hun hút đêm dài
- Những xuân đă lánh những đời
đă xa
- Rót thêm ly nữa mời ta
- Cái say như muốn chuyển qua cái sầu...
-
- Bốn mươi lăm tuổi rồi sao
- Ngó gương xưa thấy tóc râu rối
bù
- Trán hằn dăm lũng ưu tư
- Cuộc chơi trần thế chừng như
mỏi ṃn
- Sóng nhồi, thác đẩy, mưa tuôn
- Đời như cuối hạ, mộng c̣n
đang xuân
-
- Bốn mươi lăm tuổi quay nh́n
- Cái trôi cùng với cái ch́m đuổi theo
- Tiếc ǵ trận gió thu reo
- Tóc xanh phơ phất chạy theo mộng vàng
- Hỡi ta, ngày xế năm tàn
- Rượu mời sao chẳng rót tràn đau
thương
- Uống say mai sớm lên đường
- Đấu trường lại múa dăm
đường vơ quen
- Ru ta, này khúc ưu phiền:
- “Ngủ ngoan đi nhé, cơn điên
thuở nào...”
- Sài G̣n 1974
- Thanh Nam
- Thơ Xuân Đất Khách
-
Gởi Viên Linh
-
- Tờ lịch đầu năm rớt
hững hờ
- Mới hay năm tháng đă thay mùa
- Ra đi thừ thuở làm ly khách
- Sầu xứ hai xuân chẳng đợi
chờ
- Trôi dạt từ Đông sang cơi Bắc
- Hành tŕnh trơ một gánh ưu tư
- Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
- Đất lạ đâu ngờ buổi viễn
du
- Thức ngủ một ḿnh trong tủi
nhục
- Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
- Giống như người lính vừa thua
trận
- Nằm giữa sa trường nát gió mưa
- Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
- Làm thân cây cỏ gục ven bờ
- Chợt nghe từ đáy hồn thương
tích
- Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa
-
- Ơi hỡi quê hương bè bạn cũ
- Những ai c̣n mất giữa sa mù
- Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
- Không một tin nhà, một cánh thư
- Biền biệt thời gian ṃn mỏi đợi
- Rồi bời tâm sự tuyết đan tơ
- Một năm người có mười hai
tháng
- Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!
- Chấp nhận hai đời trong một
kiếp
- Đành cho giông băo phũ phàng đưa
- Đầu thai lần nữa trên trần
thế
- Kéo nốt trăm năm kiếp sống
nhờ
- Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
- Tập làm con trẻ nói ngu ngơ
- Vùi sâu dĩ văng vào tro bụi
- Thân phận không bằng đứa măng phu
- Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
- Cờ c̣n nước đánh phải đành
thua
- Muốn rơi nước mắt khi tàn
mộng
- Nghĩ đắt
vô cùng giá Tự Do!
-
- Bằng hữu
qua đây dăm bảy kẻ
- Đứa nuôi
cừu hận, đứa phong ba
- Đứa nằm yên
phận vui yên ấm
- Đứa nhục
nhằn lê kiếp sống thừa
- Mây nước có
phen c̣n hội ngộ
- Thâm t́nh viễn
xứ lại như xa
- Xuân này đón
tuổi gần năm chục
- Đối bóng ḿnh
ta say với ta...
- 1977
- Thanh Nam
-
-
- Duyên Anh có hai thi tập. Tập Thơ Tù,
1984 do Nam Á Paris ấn hành, gồm 40 bài. Tập sau có
tên là Em Tôi Sài G̣n và Paris, 1989 do tủ sách Người
Dân ấn hành, gồm 52 bài.Để công bằng
với các tác giả kia, tôi chỉ xin trích dẫn
mỗi thi tập 1 bài như sau:
- Ở Nơi Xa Lạ
Sẽ Kể Chuyện Tù
- Với Người Di
Tản
-
- Rồi có một ngày anh gặp em
- Ở nơi nào đó chẳng ai quen
- Ở nơi t́nh nghĩa chưa ĺa cuống
- Nắng rất ngoan và gió rất êm
-
- Sẽ kể em nghe chuyện ngục tù
- Những năm hay là những thiên thu
- Hay là giấc ngủ ngon trên vơng
- Mà mỗi roi thù một điệu ru
-
- Sẽ kể em nghe chuyện biệt giam
- Đề lao Gia Định, sở Công An
- Hăi hùng bị nhốt trong cô nếch
- Ngày nắng thiêu và đêm lạnh oan
-
- Ôi rét Lào Kay rét Sơn La
- Mong manh áo phạm trại Nam Hà
- Gió Lào Thanh Nghệ rang da thịt
- Đau buốt hồn ai khám Chí Ḥa
-
- Sẽ kể em nghe miền Hàm Tân
- CàTum, Suối Máu, Tống Lê Chân
- Vườn Đào, Sa Ác, Bù Gia Mập
- Phú Khánh, Long Thành... cơi tập trung
-
- Anh ngất ngư dài theo địa danh
- Đế giầy lưu văng vẹt lênh đênh
- Rừng sâu suối độc, đèo heo hút
- Bước thoát bàn chông, đạp băi ḿn
-
- Rồi cũng chênh vênh đỉnh ngọn
buồn
- Ṿng tay ôm gọn đất cô đơn
- Ṿng tay ôm gọn trời hiu quạnh
- Khi muốn đi t́m sự lớn khôn
-
- Sẽ kể em nghe sẽ kể nhiều
- Đâu cần em hiểu được bao nhiêu
- Chỉ cần đôi mắt thôi lơ láo
- Đă đủ quê nhà bớt hắt hiu.
- (1980, Thơ Tù)
- Duyên Anh
-
- Thật khó cho bất cứ ai chọn ra
một bài thơ tiêu biểu cho một thi tập. Theo
tôi bài hay nhất, và thơ nhất của Duyên Anh không
chừng lại là bài tựa sách:
-
- ...“ Tôi nhắm mắt làm thơ. Tôi mở
mắt sửa thơ. Tôi nằm gối đấu trên
tay học thuộc thơ. Quên cũng lắm. Sai cũng
nhiều. Bằng óc. Óc tôi là giấy, là bút, là
mực. Trí nhớ tôi là máy ghi âm. Thiếu chính xác v́
thiếu sinh tồ bồi dưỡng. Người ta
cấm tôi dùng tay để viết. Tôi dùng tay để
găi ghẻ. Vừa găi ghẻ vừa làm thơ.
Cần ǵ phải giấy bút. Cần ǵ phải
cảm hứng. Nỗi ngứa đă là cảm
hứng tuyệt vời. Tôi làm thơ và tôi găi
ghẻ. Bởi v́ trong thống khổ và cô đơn
tôi thèm thơ. Tôi thèm thơ hơn thèm nh́n giotỳ
nước mắt của vợ, thèm ngắm nụ cười
của con, thèm thấy một miếng đời
sống bên ngoài cánh cửa pḥng giam nặng hàng
tấn, thèm ăn cơm trắng, thèm uống nước
trà, thèm tắm gội tập thể quá tám phút... Tôi
làm thơ như Hồ Chính Minh làm thơ, như
Tố Hữu làm thơ. Trong tù. Nhưng tôi không
hậm hực kiểu Hồ Chí Minh, rên xiết
kiểu Tố Hữu. Tôi phơi phới. Tôi phiêu
bồng. Tôi lăng du. Dẫu nhà tù Tố Hữu
nhốt tôi ngày nay khốn nạn gấp ngàn lần
nhà tù thực dân nhốt Tố Hữu ngày xưa. Luôn
luôn chúng ta hơn Cộng sản, thi sĩ chúng ta hơn
Cộng sản. Chúng ta đem đời sống vào
ngục tù, dù ngục tù từng đe dọa hủy
diệt đời sống chúng ta”...
- Nhớ Cổ Tích
-
- Quê nhà mẹ có giàn thiên lư
- Một dải râm hiền giữa nắng trưa
- Những chuyện nghe hoài không biết chán
- Bắt đầu là ngày xửa ngày xưa...
-
- Tiếng sáo diều ai làm nhạc đệm
- Chống gươm con bọ ngựa mơ màng
- Thấy chân cổ tích đi trên lá
- Mặt nước hồn thơ bỗng
xốn xang
-
- Nh́n rơ Thạch Sanh ở dưới hang
- Ôm đàn dạo khúc tính t́nh tang
- Nhạc xuyên qua đất luồn qua lá
- Thành gió thành mưa phá điện vàng
-
- Nước mắt đầm đ́a thương
Cúc Hoa
- Xuân hồng muộn đến sớm phôi
pha
- Mừng cho cái Tấm nhờ ơn Phật
- Khổ trước rồi sau hết xót xa
-
- Mẹ kể biết bao nhiêu tích cũ
- Buồn như Vạn Lịch với Trương
Chi
- Kẻ đốt giải lời thề
kết tóc
- Người tan thành giọt lệ lưu ly
-
- Quê người không có giàn thiên lư
- Quê nắng đường oan cháy bỏng
vai
- Và những chuyện nghe xong chẳng khóc
- Chẳng buồn và chẳng thiết yêu ai
-
- Đời rất hiếm hoi lần Bụt
hiện
- Nên chi đoạn kết thảm vô cùng
- Bộ xương cá bống là dao nhọn
- Đâm nát hồn ta lũ Lư Thông.
- (1975, Em Tôi Sài G̣n Và Paris)
- Duyên Anh
-
- Mai Thảo với thi tập có cái tên dễ
thương và dễ ghét: Ta Thấy H́nh Ta Những
Miếu Đền, 1989 gồm 90 bài, Văn Khoa xuất
bản. Một bài phải lựa đương nhiên
là bài “Ta Thấy”... dễ thương, dễ ghét
kia. Bài sau, tôi thực sự phân vân giữa Viết Văn
Trở Lại và bài Hỏi Ḿnh Giữa Biển.
Một bài là kỷ niệm xa gần với những
bạn văn từ đất tạm dung. Bài kia là
ưu tư không thỏa về một bản ngă
nhị trùng, trong chuyến vượt biển bảy
ngày bảy đêm giữa nước và trời.
Cuối cùng tôi đă chọn Viết Văn Trở
Lại như một đánh dấu phục sinh
của một nhà văn đă tự thoát ra khỏi
những biến thái tâm lư đột ngột,
khiến khó khăn lắm mới cầm lại
được ngọn viết:
- Viết Văn Trở
Lại
-
- Viết văn trở lại
- Trước một hàng người
- Im lặng và hấp hối
- Sau kẽm gai cùng thẳm một trại giam
- Cộng sản
- Hàng ngàn người có Nguyễn Sĩ
Tế ở đầu
- Phan Nhật Nam ở giữa
- Và Tô Thùy Yên ở cuối
-
- Viết văn trở lại
- Ở Mỹ
- Nước Mỹ của những ngày dài
nhất
- Sự ăn không ngồi
rồi khủng khiếp của tâm hồn
- Lao động tám tiếng một ngày
- Hay nhàn du cũng vậy mà thôi
- Ăn không ngồi rồi
- Ngồi rồi ăn không
- Viết văn trở lại
-
- Mới tháng đầu của mùa đông này
mà ở Minnesota
- Vũ Khắc Khoan đă té sấp hai lần
v́ tuyết
- Té sấp chỉ là v́ té sấp
- Chúng ta đứng thẳng thế nào
được nữa Khoan
- Đứng thẳng thế nào Việt Nam đă
sập
- Và cái té sấp của mày trên tuyết
- Như trên giấy
- Một ng̣i bút bẻ gẫy
-
- Bạn bè nhắc tri âm cũng nhắc
- Viết lại đi vâng th́ viết lại
- Trọn một ngày chủ nhật ở
đại học Cornell
- Tôi tới đó
- Xuống phần thư đọc lại sách
ḿnh
- Những trang chữ xưa bài viết cũ
- Bằng hữu
- Những dấu tích một đời
- Những ám ảnh siêu h́nh
- Giàn giụa
- Lên khỏi phần thư buổi tối mưa
bay
- Đi dưới mưa một ḿnh
-
- Tuyết sặc sỡ và nắng lạnh
buốt
- Ủng, lông, da, len, dạ một đống
lù lù
- Những sớm mai ở Virginia
- Trong bếp nhà Ngọc Dũng
- Tôi một đống sặc sỡ tôi lù lù
- Tôi viết
-
- Ở Huntington Beach có Nghiêm Xuân Hồng
- Và Los Angeles Vơ Phiến
- Mấy địa chỉ âm thầm
- Sống không thành tiếng động
- Những người da đen đứng câu
cá suốt đêm
- Dưới băi biển mù sương
- Đất nước khuất
- Bầy hải âu cất cánh
- Ống khói một con tầu trở về
- Hơi thở. Rác. Và bọn gái điếm
- Cái máy chữ Nhà Thờ
- Đập nhễ nhại trận cười xác
thịt
-
- Ở Houston có Mặc Đỗ một mắt
đă mù
- Vượt bốn ngàn cây số tới thăm
nhau
- Đi với bạn lên ngôi nhà trên núi
- Thằng đă tới thềm thằng c̣n
ở dưới
- Cùng trẻ như rừng cùng già như
suối
-
- Ở Seattle có Thanh Nam cuống họng
- Đứt ĺa
- Chứng ung thư tàn độc
- Cây gậy chống trên tay
- Cái mũ dạ che cái đầu trọc
lốc
- Trước ḍng lệ Túy Hồng
- Cuộc bút đàm lẫn cuối
- Trong ngôi nhà bóng tối
- Không bận ǵ tháng tới
- Về đây đưa đám tao
-
- Và ở Sài G̣n vẫn c̣n Bùi Giáng
- Tối tối về Chùa đêm làm thơ
- Ngày ca múa khóc cười giữa chợ
- Kẻ sỹ điên thế kỷ mù rồi
-
- Những Thanh Tâm Tuyền trăm năm đă
xa
- Những Vũ Hoàng Chương
ngh́n ngày đă khuất
- Những bạn bè mày chúng nó đă giết
- C̣n viết được ư, thằng
sống sót?
- Mai Thảo
- Ta Thấy H́nh Ta
- Những Miếu Đền
-
- Ta thấy tên ta những bảng đường
- Đời ta, sử chép cả ngàn chương
- Sao không, hạt cát sông hằng ấy
- C̣n chứa trong ḷng cả đại dương
-
- Ta thấy h́nh ta những miếu đền
- Tượng thờ ngh́n bệ những công
viên
- Sao không, với khói hương sùng kính
- Đều ngát thơm từ huyệt lăng quên
-
- Ta thấy muôn sao đứng kín trời
- Chờ ta, Bắc Đẩu trở về ngôi
- Sao không, một điểm lân tinh vẫn
- Cháy được lên từ đáy thẳm
khơi
-
- Ta thấy đường ta Chúa hiện h́nh
- Vườn ta Phật ngủ, ngơ thần linh
- Sao không, tâm thức riêng bờ cơi
- Địa ngục ngươi là, kẻ khác
ơi!
- Ta thấy nơi ta trục đất
ngừng
- Và cùng một lúc trục trời ngưng
- Sao không, hạt bụi trong ḷng trục
- Cũng đủ ṿng quay phải đứng
dừng
-
- Ta thấy ta đêm giữa sáng ngày
- Ta ngày giữa tối thẳm đêm dài
- Sao không, nhật nghiệt đều tăm
tối
- Tự thuở chim hồng rét mướt bay
-
- Ta thấy nhân gian bỗng khóc ̣a
- Nh́n h́nh ta khuất bóng ta xa
- Sao không, huyết lệ trong trời đất
- Là phát sinh từ huyết lệ ta
-
- Ta thấy rèm nhung khép lại rồi
- Hạ màn. Thế kỷ hết tṛ chơi
- Sao không, quay gót, tên hề đă
- Chán một tṛ điên diễn với người
-
- Ta thấy ta treo cổ dưới cành
- Rất hiền giấc ngủ giữa
rừng xanh
- Sao không, sao chẳng không là vậy
- Khi chẳng c̣n chi ở khúc quanh.
- Mai Thảo
-
-
- Khoảng 30 các nhà thơ thành danh ở
Hải Ngoại sau 1975. Họ được kể như
một lực lượng hùng hậu nối tiếp
ḍng thi ca của chúng ta. Họ là cái gạch nối
cần thiết giữa thế hệ hận thù xương
máu với Cộng sản Việt Nam và lớp con cháu
ngây thơ vô tội sau này. (Con số 30 này là một
ước tính của riêng tôi, không căn cứ trên
một tiêu chuẩn, mẫu mực nào. Nhưng tôi thành
thật tin rằng hiện nay chúng ta có nhiều v́ sao
thơ hơn cái “nhị thập bát tú“ thời xưa.)
-
- Rất may là khối lượng đông
đảo những nhà thơ trung gian này đă ghi
được những dấu ấn đậm nét
của họ trên thi đàn Việt Nam Hải
Ngoại sau 1975. Sức sáng tác dồi dào của
họ rất đáng cho chúng ta hănh diện và thán
phục. Thể tài sáng tác của họ thật
rộng răi. Từ những nét sử vàng, những thiên
anh hùng ca đến những sinh hoạt chợ búa,
vui chơi hàng ngày với những nhận xét tinh
tế thi vị.
- Đây là một thành phần, một hiện tượng
đáng nói nhất, và thời gian không chỉ là
một giờ, một buổi mà xong. Để tránh thiên
vị, bất công tôi xin được không đề
cập đến vị nào trong 30 ngôi sao thơ tôi
hằng ái mộ ở đây.
-
- Các
cây thơ đang phát triển:
-
- Các cây thơ mới đang phát triển,
đang lên đường, đang dấn thân cùng
chữ nghĩa. Họ, có nhiều người cho
thấy những cố gắng đáng kể. Đang
đi vào quỹ đạo thơ, hoặc h́nh thành
cho riêng họ một sắc thái mới với thành
ư. Nhiều người khác không biết có nên
được gọi là cây thơ hay không, bởi cái
mà họ viết ra không giống như văn xuôi, có
lục bát, thất ngôn nhưng lại không thơ chút
nào. Họ, đa số là những người
lớn tuổi. Những cây thơ văn nghệ
hiệu đoàn. Và khá đông những người chưa
từng làm thơ trong đời.
-
- II.
Khuynh Hướng Thi Ca
- Việt
Nam Hải Ngoại:
-
- 21/ Thơ trữ t́nh: Dù là thơ cũ, thơ
mới, dù ở không gian, thời gian nào chúng ta cũng
có thơ t́nh. Với thảm cảnh chung của
quốc nạn, của chia biệt, tù đầy... chúng
ta có bạt ngàn thơ t́nh buồn. Thơ tang tóc . Thơ
sẩy nghé tan đàn. Thơ cay đắng t́nh
phụ.
-
- 22/ Thơ t́nh nước hay thơ chiến
đấu: Cũng thế, suốt hơn hai thập niên
tủi hờn chiến bại, thi đàn chúng ta
vẫn không ngớt vang vọng tiếng thơ
chiến đấu đầy hào khí, bất khuất
của lớp trẻ, lớp già, người sau,
kẻ trước. Những người lớn
tuổi, đem kinh nghiệm, đem kỷ niệm vui
buồn vào thơ như một chứng tỏ. Họ
đa số là những sĩ quan, những cựu tù
nhân chính trị, những chinh phụ cám cảnh nước
mất nhà tan, lưu lạc xứ người. Họ
với thơ nhớ nước thương ṇi, thơ
hào khí đấu tranh nuôi thù rửa hận
-
- Thực ra hai khuynh hướng này có thể
nhập chung làm một. Bởi thơ t́nh yêu vẫn có
thể mang chiến đấu tính, và thơ chiến
đấu cũng có thể chứa đựng t́nh yêu
nồng nàn.
-
- 23/ Hướng thơ ngoại: Đó là thể
loại thơ song ngữ, hay được sáng tác
đơn thuần bằng ngoại ngữ. Một
số thi khách có ước muốn giới thiệu
thi ca Việt Nam với người bản xứ.
Số kia c̣n quá trẻ khi di tản, nên hầu như
đă hoàn toàn hội nhập văn hóa xứ người.
Họ không có cách nào khác hơn là làm thơ bằng
ngoại ngữ. Nhưng số thơ bằng ngoại
ngữ và song ngữ c̣n quá ít.
-
- 24/ Dịch in thơ: Một số những
thi khách thành công trên thương trường, nên
ngẫu hứng in thơ như một chứng tỏ
khác. Những thử thách tưởng chừng như
vô hại. (Hăy thẩy lên sân khấu những
giọng hát mèo kêu, hát sai nhạc, sai lời, bạn
sẽ bị hành hạ không kém khi phải dở
đọc những cuốn thơ mèo què thế đó.)
Một số cây thơ chủ quan, ngỡ thơ ḿnh
là hay nhất, đă vội vă in thơ để
dọa vợ hù con. Một số con hiền dâu
thảo gắng tom góp cái được gọi là thơ
của phụ mẫu, đem in để báo hiếu
cha mẹ và báo hại người đọc. (Mong
rằng những ấn phẩm loại này chỉ nên
lưu hành trong thân tộc, thân hữu như một
thứ lưu bút ngày... vàng.)
-
- 25/ Biếm thi: Thơ hài được coi như
một nét đặc thù của thi ca chúng ta. Chưa có
dân tộc nào cười bằng thơ nhiều như
chúng ta. Thơ tự hài. Thơ biếm thói hư
tật xấu của người. Thơ chống
đối ngụy quyền, chống tham ô, nhũng
lạm... Tiếc rằng thể biếm thi đă
bị lạm dụng bởi những cây cù không cười,
và tục tĩu không nổi can. Ngoài ra chúng ta có thêm
một vài sắc thái dị biệt tạm gọi là
thơ dung tục như sau:
-
251/ Thơ hiếu hỷ: Thưa rằng ở
thời đại nào chúng ta cũng có khá đông
những cây thơ loại này. Thơ chia buồn đám
ma, góp vui đám cưới. Mừng con cái nhà người
mới ra luật sư, bác sĩ...( Dù có nhiều bài
khó có thể gọi chúng là thơ.)
-
252/ Thơ phong trào, hay thơ khẩu hiệu: Người
làm thơ chỉ cần dựa vào thời sự, hay
dựa vào nỗi ham vui của ḿnh mà hô hào anh em
tiến lên giằng lại non sông, phá tan cùm xích. Quư
vị này không hề biết đến phương
trâm “Follow me”, cũng chưa từng thấy lính Mũ
Đỏ đánh trận bao giờ. Sĩ quan Nhẩy Dù
luôn tiến trước hàng quân làm gương cho
binh sĩ. Không bao giờ nên là nhà thơ nằm
ở hậu phương hô khẩu hiệu xuông.
-
253/ Thơ quá đà, quá chén: Ở xứ tự
do, chúng ta không sợ lưỡi kéo kiểm duyệt
của nhà nước thế nên đôi khi chúng ta
thấy xuất hiện những bài thơ công xúc tu
sỉ. Ấy là khi những cây thơ đem vú vê,
đem cái giống, đem ngôn ngữ pḥng the, ngôn
ngữ đứng đường vào thơ một cách
không cần thiết. Những ngôn ngữ quá đà,
quá chén ấy, buồn thay, cũng từng thấy
xuất hiện trong sáng tác của cả những nhà
thơ nữ.
-
254/ Thơ vinh danh xứ tạm dung: Không chỉ
những giới trẻ đă ḥa nhập vào văn hóa
xứ người đă làm thơ vinh danh xứ
tạm dung. Ta từng thấy giới khoa bảng,
giới có tuổi nghề đă hănh diện khoe
những sáng tác loại này với triết lư “ăn
cây nào rào cây nấy”. Họ hănh diện làm thơ
bằng ngoại ngữ và bon chen dự thi để
khoe khoang những giải thưởng tiến bộ
ấy.
-
-
- Nh́n chung th́ nền thi ca của chúng ta luôn
đông vui hơn bất cứ một sắc dân nào
trên thế giới. Thơ của chúng ta tràn ngập
các báo chí, tuần san, nguyệt san, đặc san. Đó
là điểm đặc thù hiếm thấy trong
bất cứ nền văn chương, báo chí nào
của các dân tộc khác:
- 31/ Khối lượng người làm thơ
thêm đông đảo.
- 32/ Hướng thơ ngoại ngữ
hoặc song ngữ trên đà phát triển chậm.
- 33/ Số lượng thi phẩm in ồ
ạt. Đa số dưới tiêu chuẩn.
- Chúng ta đă có những tạp chí riêng cho
thơ. Trước đây có tờ Lá Thư Bô Lăo, và
một tạp chí tương tự ở miền Đông
Hoa Kỳ. Một tạp chí thơ khác ở Nam Cali
đă ra được 10 số. Thơ ra theo mùa: Xuân,
Hạ, Thu, Đông.
- Số lượng thi khách đông vui, số
lượng thi phẩm ra đều, nhưng chúng ta
thiếu hẳn một tổ chức đỡ đầu
cho bộ môn thơ với những hướng
dẫn giúp đỡ cần thiết. Thiếu hẳn
một cơ sở riêng cho thơ, bởi hiện nay các
nhà phát hành, các tiệm sách đă từ chối
nhận bán thơ. (V́ số lượng thơ B-, C+
tung ra nhiều quá, tràn ngập kệ sách, và thơ
vốn dĩ rất khó bán.) Tôi tin rằng chúng ta không
thiếu những nhà mạnh thường quân, không
thiếu những thi khách yêu thơ. Chúng ta chỉ
thiếu những người có ḷng với thơ.
Tất cả v́ thơ và cho thơ.
-
-
- 41/. Chúng ta nên có một tổ chức riêng
cho bộ môn thơ. (Thi lâm, thi xă)
- 42/. Nên có giải thưởng hàng năm cho
những thi tập ấn hành trong năm đó.
- 43/. Để giúp quảng bá thơ, thi xă nên:
- - Nhận bán dùm thơ cho các tác giả.
- -Phát hành hàng tháng một thư mục.(
Hoặc không định kỳ)
- -Nhận quảng cáo, nhật tu một
lịch trao đổi sách (Hoán thư) trên một báo
phát hành toàn vùng như Văn Nghệ Tiền Phong, và
các báo thân hữu địa phương. Các thi
hữu sẽ căn cứ theo lịch ấy để
tự liên lạc mua hoặc trao đổi sách.
- 44/ Tổ chức những buổi hội
thảo, ra mắt sách, tại trung ương và các
địa phương thuận tiện.
-
- Hà Huyền Chi
-
- (Tham luận dự đọc
trong Đại Hội Văn Học và Truyền Thông Báo
Chí Việt Nam Hải Ngoại ngày 7 tháng 3,1998 tại
Tampa, Florida Hoa Kỳ)
|