- Thơ:
- “Saut” Đêm, 1963 - Còn Gì Cho Anh, 1971 (Giải Văn
Học Nghệ Thuật 1971) - Cho Mặt Trời, 1975 - Tên Nô Lệ
Mới, 1979 - Như Đá Ngàn Năm, 1981 - Cõi Buồn Trên Ta,
1984 - Đời Bỗng Dưng Thừa, 1987 - Không Gian Vương
Dấu Giầy, 1988 (Hành Trình 30 Năm Thơ Hà Huyền Chi) -
Thơ Đen, 1991, biếm thi, dươ'i bu't hiệu Mậu Binh -
Thơ Kẽ m Gai, 1994, biếm thi, Mậu Binh - Tháng Một
Buồn, 1994 - Trong Da Ngựa, 1995 - Một Túi Bình Sinh,
Một Túi Thơ, 1996 - Đồng Thiếp, 1966 - Bão Đầy, 1998
- Bên Trời Mài Kiếm, thơ song ngữ Việt-Anh, 1999 -
Sóng Ngầm, 2003.
-
- Truyện dài: Rừng Ái Ân, 1970 - Vũng Tối Đầy,
1970 - Khu Vườn Chim Sẻ, 1970 - Những Nụ Gai Mòn,
1970 - Bước Đam Mê, 1971 - Mưa Đêm Trong Chiến Hào,
1971 - Trên Cánh Đồng Mây, 1974 - Thằng Thái Bình,
1974
-
- Sinh hoạt Điện Anh: đóng 9 phim và Đạo diễn 2
phim
-
- Đoạt giải: Giải Phóng sự Tiền Phong 1967. Giải
Văn Học Nghệ Thuật 1971, bộ môn thơ. Tượng Vàng, Giải
Văn Học Nghệ Thuật 1974, bộ môn Điện ảnh.
-
- “Chân Dung” Hà Huyền Chi
- (trích đoạn)
-
-
“Tôi, 1935 vào đời, khóc dối. Gã trai Hà Nội, quán
tại Hà Đông. Nhóc Đặng Trí Hoàn sinh nhằm thời nô lệ,
thực phong. Cùng vận nước long đong từ tấm bé Lớp vỡ
lòng. Tôi học tiếng Tây thay cho tiếng mẹ. Ngày, mỗi
ngày, vẫn cà cưởng đồng ca: Marechal, nous voilà!”
Thưa ngài Thống chế Pétain, chúng con đang hiện diện...
- ... Sau Pháp thuộc đến thời Nhật chiếm Tôi học
tiếng Phù Tang. Học nghĩa đói no, học nghĩa cơ hàn. Ất
Dậu, phá ruộng trồng đa . Đốt lúa thay than chạy máy.
Ba triệu dân tôi hồn lau, bóng sậy. Chết đói đầy đường,
kín ngõ Thăng Lọng Mỗi sớm mai, nhiều chiếc xe bò chở
đầy xác ốm tong. Người ngắc ngoải đem vùi cùng thây
chết...
- ... Tôi mười lăm, trôi giạt xuống Sơn Tây. Bương
Cấn, Ba Vì, đá ong cằn cỗi. Tôi nhếch nhác chuồn lại
về Hà Nộ . Lại tiếng Tây xí xố trong đời. Tôi học sửa
xe. Tôi lén nhập viện mồ côi . Thằng chủ bẩn biến tôi
thành đầy tớ. Viện mồ côi như nhánh sông nước lợ Bày
hàng, quyên góp của bàn dân. Nói dậy nghề, dậy chữ .
Láo khoét cho qua. Tôi trốn viện trở về căn nhà nát
- Lũ em tôi kiếm ăn trên bãi rác . Bố tong teo gò
lưng đạp xích lô . Mẹ buôn thúng bán bưng tất tưởi ven
đô. Thằng con lớn là tôi, khóc thầm trong lớp học.
- Ơn cha mẹ không quản gì lao nhọc. Mong cho con cái
nên người . Tôi làm gì với mớ chữ nghĩa đây trời ? Tôi
tận sức. Rồi cũng tôi thơ thẩn. Ham vui .
- Tôi mười sáu, trốn vào Nam lập chí Ở 1954, cùng
đoàn người di cư theo Ngô chí sĩ. Tôi thành con bà
phước giữa đời. Trại học sinh cho hai bữa cơm tươi.
Tôi múa may, bán báo, dậy kèm, tìm học phí. Hai năm
liền tôi thi trượt Tú Tài. Tôi hành xác cạo đầu. Tôi
kinh sử miệt mài. Vẫn vỏ chuối. Cán mai .
- Khoá 14, tôi thi vào Võ Bị. Lính cà nhỏng, cao bồi,
thất chí...
- Tôi chọn Nhảy Dù, màu mũ đỏ dễ thương. Chọn gian
khổ làm đầy thêm nghĩa sống. Xa trường mẹ mới thấy hồn
chao động. Nhớ gì đâu từng kỷ niệm buồn vui. Gặp lại
đệ huynh trong binh lửa rực trời. Thấy thân thương hết
nói .
Tôi đánh giặc, làm thơ. Tôi yêu cuồng sống vội.
Nhảy Dù, nhảy đầm, đời khật khưỡng say. Bài thơ đầu
tay: “Không Gian Vương Dấu Giầy”. Đời rộng lượng biến
tôi thành thi sĩ. Tôi, Hà Huyền Chi, viết không ngưng
nghỉ. Thơ ròn như súng tiểu liên. Tôi bập bỗng thơ khi
bước giữa bãi mìn . Mê viết lách, tôi nhảy về báo chí.
Rồi phát thanh, điện ảnh tận vui. Cũng đóng 8 phim,
cũng đạo diễn một thời. Rồi ấn họa cho đủ mùi tạp lục
.
- Tháng Tư đen với đáy cùng đớn nhục. Tôi giạt sang
Mỹ quốc cầu an. Tôi đọa đầy tôi. Thiếu tá lao công.
Thi sĩ bồi bàn. Rồi kế toán, công trừ mạt kiếp. Gia
tài mang theo là một trời quê hương tưởng tiếc. Tám
chuyện dài như chứng tích bi thương. Lệ khô rồi còn
nhức nhối đường gươm. Thơ lại bắn từ trái tim nứt rạn.
17 tập thơ vẫn dư sức đạn. Từ thơ là nhạc, ngót 300
phổ bản. Hơn 40 nhạc sĩ góp phần. Kỷ vật cho đời là Lệ
Đá, phù vân .
- Cám ơn trời ban chút xíu hồng ân. Cám ơn vợ cho
nồng nàn tương cảm. Ơn Đồng Minh cho mũi dao lút cán.
Cám ơn em cho nước lớn sông dài. Cám ơn đời còn đẹp
lúc chiều phai”. HHC
-
- Thơ Hà Huyền Chi
- Không Gian Vương Dấu Giầy
- Đêm nay trời đổi gió
- Nằm đếm sao trên trời
- Đời những người Mũ Ỡỏ
- Vui nhiều lắm em ơi
-
- Từng chuyến, từng chuyến bay
- Nói lên nhiều thương nhớ
- Dù trĩu nặng vai gầy
- Tim run từng nhịp thở
-
- Hoa Dù, Hoa Dù nở
- Lòng trai, lòng trai say
- Trời cao vum vút gió
- Xóm làng mờ chân mây
-
- Tôi đi tìm tình thương
- Trời thương yêu mở ngõ
- Hoa áo đẹp mười phương
- Máu thù loang Mũ Đỏ
-
- Từng chiếc lại từng chiếc
- Hoa Dù nở trong mây
- Hồn tôi ai chấp cánh
- Không gian vương dấu giầy
- HHC
-
- Lính Cụ Lâm Viên
- Đám Võ Bị còn thương trường cũ
- Tiểu Bang Xanh, lính cụ họp nhau
- Thương quê trắng tóc, bạc râu
- Bao năm núi hận, sông sầu chưa vơi
-
- Băm Hai khoá, đội trời đạp đất
- Dốc hùng tâm sẻ mật phơi gan
- Công danh phú quý không màng
- Bốn vùng chiến thuật từng chan máu người
-
- Bốn Mươi năm,vì đời dựng nước
- Bao trai hùng vị quốc vong thân
- Bao người lao cải, phong trần
- Xương vùi biển lạnh, cát lầm những ai?
-
- Anh Hải Quân sánh vai Mũ Đỏ
- Biệt Ỡộng Quân, Lôi Hổ, Thần Phong
- Mũ Xanh, Thiết Kỵ, Pháo Bông
- Bánh Tiêu bám đất biên phòng tử sinh
-
- Lính Tiếp Vận, Công Binh, Quân Cụ
- Lính Truyền Tin... bà hú hơi nhiều
- Thù sâu oán nặng mang theo
- Người chung trường mẹ sơn keo một lòng
-
- Khác chính kiến cũng không hiềm khích
- (Quỷ vô thần thù địch vẫn còn)
- Khắc câu “Tự Thắng” trong hồn
- Lính già nhưng tấm lòng son chưa già
-
- Những họp mặt chan hoà mừng tủi
- Cánh tay xa cùng vói thêm gần
- Đệ huynh, huynh đệ tương lân
- Trái tim Quốc Toản trong thân lưu đầy.
- HHC
-
- Bên Lề Tổ Quốc
- Hành lý ta có cây gươm cùn
- Gia tài ta một tấc lòng son
- Gươm chưa bén mà đầu sớm bạc
- Chí chưa hao mà sức đã mòn
- Vốn liếng ta là dăm đấu chữ
- Chữ rụng rơi và chữ thăng hoa
- Ta bươn chải trên dòng cô lữ
- Chữ đắng lòng, mực cũng lệ pha
-
- Hồn tử sĩ về trong hơi gió
- Sóng oan khiên còn trắng biển đông
- Ai mài kiếm trong hồn ta đó
- Ai quay lưng lòng có thẹn lòng?
-
- Mai nằm xuống bên lề Tổ Quốc
- Trách nhiệm và danh dự ta đâu
- Hận mất nước cách gì nguôi được
- Thanh gươm cùn trân gửi đời sau
- HHC
-
- Ao Thiên Đường
-
- Những nấm dù vẫn nở
- Đen, đỏ, tím, vạng xanh
- Mưa tuôn đằm tháng nhớ
- Tươi tốt nỗi buồn anh
-
- Trốn vùi trong ảo giác
- Trái hạnh nồng em trao
- Sau lớp son khuê các
- Có dối gian ngọt ngào
-
- Trên dòng tình nghiệt ngã
- Thừa cuốn xoáy tang thương
- Anh với lòng tơi tả
- Lết tới ảo thiên đường
- HHC
-
- Thấy Lửa Binh Xưa Ơ Mắt Người
-
- Đánh một vòng đai, núi trắng tươi
- Ta trên lưng núi, núi lưng trời
- Ta từ tiền kiếp về đây gặp
- Những mảnh ân tình thật hiếm hoi
-
- Thấy tiếc cho nhau ở thiếu thời
- Thấy sông chẩy ngược, lũ buồn vui
- Ba đào từng khúc, điêu linh nước
- Thấy lửa binh xưa ở mắt người
-
- Con dốc Hàng Kèn mù sạn đạo
- Lá bàng tơi tả lót đời trai
- Mộng con, mộng lớn đều hư ảo
- Đứa sớm xuôi tay, đứa lạc loài
-
- Truyện cũ nghe hoài còn cảm khái
- Rượu mừng chưa cạn đã ngùi say
- Chút lòng thiết thạch bâng khuâng mãi
- Sông núi dài thêm những cánh tay.
- HHC
-
- Ngược Núi
- Quanh co nghiêng ngả trên đường núi
- Đời ngã vào nhau thú dị thường
- Trên chuyến xe đò leo dốc mỏi
- Lòng xe nồng ấm tóc thương thương
-
- Thăm thẳm đường dài, đường bỗng ngắn
- Bâng khuâng tình ngỏ giữa tay đan
- Nụ cười như thác Gu-ga trắng
- Rót mãi vào đêm mộng chín vàng
-
- Cung kiếm tung hoành trong bão loạn
- Tên bay ngạo nghễ chí tang bồng
- Lâm viên ngàn thước mây hùng tráng
- Ngó xuống nhân gian đám bụi hồng
-
- Nghiêng xuống thùng đàn, nghiêng suối tóc
- Nhạc tình thổn thức sáu giây mưa
- Tương tư hoa lá ngàn đêm khóc
- Mắt đá sầu non buổi tiễn đưa
-
- Từ đó nghe hoài tin chiến sự
- Cõi lòng xuân nữ rộn binh đao
- Người đi Mũ Ỡỏ như hồn chữ
- Vút cánh thần ưng chín dậm cao
-
- Tuyết lạnh xứ người buồn nẫu ruột
- Giở tờ Đa Hiệu lệ tuôn trào
- Cố nhân trong ảnh ai ngờ được
- Cằn cỗi tang thương giống kẻ nào
-
- Lửa lạnh còn ngời trên mắt đục
- Thơ bay từng chữ vẫn gai chông
- Gã trai Võ Bị hai mầu tóc
- Nhớ chuyến xe đò ngược núi không?
- HHC
-
- Lãng Du
- Ngựa cuồng bỏ chiến trường xa
- Bao năm khói súng trên da còn nồng
- Anh về từ chốn bụi hồng
- Bao năm lòng vẫn đầy lòng giáo gươm
-
- Em từ gác tía vườn hương
- Theo anh bôn tẩu trên đường lãng du
- Tập hư mà vần chẳng hư
- Vần còn nguyên nét tiểu thư trang đài
-
- Học bài, thôi lại trả bài
- Ba năm tình nghĩa có hai năm hờn
- Tốn tiền mua sắm keo sơn
- Qua cơn chinh chiến lại cơn hòa bình
-
- Lại thêm thắm thiết ân tình
- Lại em đỏ mặt khi anh bắt đền.
- HHC
-
- Hà Huyền Chi và bằng hữu: (Từ trái sang phải: Hàng
trước với Du Tử Lê, Cao Tiêu, Ngọc Hoài Phương
- Hàng sau với Nguyễn Đạt Thịnh, Nguyễn Phan và Hà
Huyền Chi
-
-
-
- Phỏng Vấn Nhà Thơ Hà Huyền Chi
- ( Tóm lược cuộc phỏng vấn của Trần Duy Việt trên
tập san Hồn Việt thực hiện với lời bảy tỏ của Hà Huyền
Chi)
-
- Vào lính lúc 18 tuổi đời, và rã ngũ sau 18 tuổi
lính. Đơn vị đầu tiên là Thiếu úy Trung Đội trưởng
thuộc Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Đơn vị cuối cùng là Thiếu
Tá Trưởng phòng Ấn Họa Cục Tâm Lý Chiến.
- - Khi ở Nhẩy Dù, viết nhiều truyện ngắn và thơ. Có
bài thường xuyên trên báo quân đội, nên anh nhẩy vào
nghề báo chí. Nhẩy vào điện ảnh như một thử thách mình.
Có lúc anh làm phụ tá trưởng phòng. Điện ảnh cục Tâm
Lý Chiến. Làm Đạo diễn, trong Đạo diễn đoàn thuộc Nha
Điện Ảnh của Bộ Thông Tin.
- - Vốn mê thơ và tập làm thơ từ lúc 15 tuổi. Bởi
cũng như mọi người, nghĩ rằng làm thơ là lối dễ nhất
để đi vào thế giới của văn chương.
- - Tính đến tháng 2 năm 2001 thì anh có 238 bản
nhạc đã được phổ từ thơ anh, bởi 37 nhạc sĩ. Người phổ
cho anh nhiều nhất là nhạc sĩ Mai Anh Việt, với 65 bài.
- - Sự tương cảm đóng vai trò quan trọng hơn. Thí dụ
như với nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, thì sau 20 bản nhạc phổ
thơ HHC, các anh chỉ mới gặp nhau lần đầu gần đây thôi.
Nhiều nhạc sĩ khác chưa từng quen biết với anh.
- - Khởi đầu thì là sự ngẫu nhiên tình cờ. Sau này
thì do kiến thức học được từ sự tương quan giữa âm sắc
giữ thơ và nhạc. Biết tìm cho thơ mình có nhạc tính
nhiều hơn. Thơ đôi khi đẹp bởi góc cạnh sần sùi, nhanh,
mạnh, gọn. Nhưng vào nhạc thì đôi khi cần chuốt cho
thanh tao, và mướt hơn.
- - Trước hết, chúng ta có tình trạng lạm phát số
người muốn tự khoác cho mình chiếc áo thi sĩ, nhạc sĩ.
Nhiều người bỏ tiền tự in thơ , nhạc mà chưa nắm vững
được kỹ thuật căn bản, nhập môn. Của niêm luật, vần
điệu, thanh điệu, hợp âm và phối âm. Tình trạng trăm
hoa đua nở này không có lợi cho sự tiến hóa chung của
2 bộ môn nghệ thuật này. Nếu không muốn nói là có hại.
- Thử tưởng tượng nhé: Trên bất kỳ một sân khấu nào,
ai cũng có quyền nhẩy lên ca, ngâm bạt mạng, thì sớm
muộn gì ta cũng giết chết các sinh hoạt này.
- Là một người sưu tập về thơ (collection, chưa là
selection) mà không cách gì mua được đầy đủ những thi
tập ấn hành ở Hải ngoại. (Có thể nói là mỗi tuần đều
có sách mới ra lò.) Nghĩ là các CD nhạc cũng ở cùng
mức độ lạm phát, tràn ngập thị trường vậy thôi.
- Trận giặc hạ giá của các CD sản xuất từ VN, đã tàn
phá thị trường ca, ngâm Hải Ngoại như mọi người đều
biết. Rất may là cơn lốc ấy đã tan nhanh. Nhưng vẫn là,
sau cơn mưa trời vẫn tối.
- Sự làm giá quá đáng của giới nghệ sĩ trình diễn
đang giết chết giới sản xuất. Giống như giới Tài tử
điện ảnh Mỹ đòi thù lao vài chục triệu Đô cho mỗi cuốn
phim. Khiến hàng loạt các rạp chiếu phim phá sản, vì
giá vé lên cao.
- Cũng thế, ca sĩ Hải ngoại đòi thù lao từ 3, tới 5
ngàn Đô cho một bài hát thâu âm. Khiến giá bán của 1
CD quá cao so với giá CD sản xuất từ VN vẫn là một bế
tắc, nan giải.
- Sau nữa, chúng ta đã tự sát khi gán ghép các bản
nhạc tiền chiến vào chung 1 CD với nhạc thính phòng,
hiện đại. Nhạc sến đứng chung với nhạc thính phòng.
Anh không loại bỏ giá trị của các loại nhạc xưa. Giá
trị của lưu niệm, hoài cảm, nếu chúng được xếp riêng
vào những CD cùng thể điệu, hay thể loại.
- HHC