| Home  | Tiểu Sử HHC | Thả Gió Bay Đi | Mục Lục | Từ Thơ Đến Nhạc |
HHC - Nhánh Nhỏ Giao Cảm | Thơ Ghé 1 Chân | Hot Links  |

| English | Audio & Video | Dịch Mậu Binh | Thơ Chuyển Ngữ | Suối Thơ |
|
Góc Thơ HHCTác Phẩm HHC Thơ Mậu Binh |  Trang Đặc Biệt | Thư Tín  |


 HHC

 
 
Ha Huyen Chi
 Mau Binh
Số
Phác Thảo Bộ Phim Văn Sử
Con Tiên Cháu Rồng
Mời vào trang

Mục Lục Thơ Mậu Binh ABC

Mục Lục Thơ Mậu Binh Theo Từng Tập

 

| Home  | Tieu Su HHC | Lang Du | Tha Gio Bay Di | Muc Luc | Tu Tho Den Nhac | Nhanh Nho Giao Cam | 

| Goc Tho HHC Tac Pham HHC Tho Mau Binh |   Hot Links  |Thu Tin  | Tho Chuyen Ngu |

Ha Huyen Chi
 Mau Binh
 
 
 
 


 

Văn Nghệ – Trang Chiến Hữu
Vương Trùng Dương phụ trách
 
Hà Huyền Chi
 
 
Tên thật Đặng Trí Hoàn (các bút hiệu khác: Hoài Hương, Mã Tử, Hồ An, Mậu Binh)
Sinh ngày 21 tháng 12 năm 1935 tại Hà Nội Xuất thân khoá 14 Võ B ịĐà Lạt. Cựu Thiếu tá Trưởng Phòng Aán Họa cục Tâm Lý Chiến QLVNCH.
Làm thơ từ lúc trẻ, bài đầu tiên được đăng trên tờ Chiến Sĩ Cộng Hoà: “Không Gian Vương Dấu Giầy”.
Hà Huyền Chi bước vào con đường Văn Học Nghệ Thuật trên nhiều bộ môn: Thơ, Văn và Điện Ảnh 
Hiện định cư tại Hoa Kỳ từ 1975
Tác phẩm tiêu biểu đã xuất bản:
Thơ:
 “Saut” Đêm, 1963 - Còn Gì Cho Anh, 1971 (Giải Văn Học Nghệ Thuật 1971) - Cho Mặt Trời, 1975  - Tên Nô Lệ Mới, 1979 - Như Đá Ngàn Năm, 1981  - Cõi Buồn Trên Ta, 1984 -  Đời Bỗng Dưng Thừa, 1987 - Không Gian Vương Dấu Giầy, 1988 (Hành Trình 30 Năm Thơ Hà Huyền Chi)  - Thơ Đen, 1991, biếm thi, dươ'i bu't hiệu Mậu Binh - Thơ Kẽ m Gai, 1994, biếm thi, Mậu Binh  - Tháng Một Buồn, 1994  - Trong Da Ngựa, 1995 - Một Túi Bình Sinh, Một Túi Thơ, 1996 - Đồng Thiếp, 1966  - Bão Đầy, 1998 - Bên Trời Mài Kiếm, thơ song ngữ Việt-Anh, 1999 - Sóng Ngầm, 2003.
 
Truyện dài:  Rừng Ái Ân, 1970  - Vũng Tối Đầy, 1970 - Khu Vườn Chim Sẻ, 1970  - Những Nụ Gai Mòn, 1970 - Bước Đam Mê, 1971  - Mưa Đêm Trong Chiến Hào, 1971 - Trên Cánh Đồng Mây, 1974  - Thằng Thái Bình, 1974
 
Sinh hoạt Điện Anh: đóng 9 phim và Đạo diễn 2 phim
 
Đoạt giải:  Giải Phóng sự Tiền Phong 1967. Giải Văn Học Nghệ Thuật 1971, bộ môn thơ. Tượng Vàng, Giải Văn Học Nghệ Thuật 1974, bộ môn Điện ảnh.
 
“Chân Dung” Hà Huyền Chi
(trích đoạn)
 
“Tôi, 1935 vào đời, khóc dối. Gã trai Hà Nội, quán tại Hà Đông. Nhóc Đặng Trí Hoàn sinh nhằm thời nô lệ, thực phong. Cùng vận nước long đong từ tấm bé Lớp vỡ lòng. Tôi học tiếng Tây thay cho tiếng mẹ. Ngày, mỗi ngày, vẫn cà cưởng đồng ca: Marechal, nous voilà!” Thưa ngài Thống chế Pétain, chúng con đang hiện diện...
... Sau Pháp thuộc đến thời Nhật chiếm Tôi học tiếng Phù Tang. Học nghĩa đói no, học nghĩa cơ hàn. Ất Dậu, phá ruộng trồng đa . Đốt lúa thay than chạy máy. Ba triệu dân tôi hồn lau, bóng sậy. Chết đói đầy đường, kín ngõ Thăng Lọng Mỗi sớm mai, nhiều chiếc xe bò chở đầy xác ốm tong. Người ngắc ngoải đem vùi cùng thây chết...
... Tôi mười lăm, trôi giạt xuống Sơn Tây. Bương Cấn, Ba Vì, đá ong cằn cỗi. Tôi nhếch nhác chuồn lại về Hà Nộ . Lại tiếng Tây xí xố trong đời. Tôi học sửa xe. Tôi lén nhập viện mồ côi . Thằng chủ bẩn biến tôi thành đầy tớ. Viện mồ côi như nhánh sông nước lợ Bày hàng, quyên góp của bàn dân. Nói dậy nghề, dậy chữ . Láo khoét cho qua. Tôi trốn viện trở về căn nhà nát
Lũ em tôi kiếm ăn trên bãi rác . Bố tong teo gò lưng đạp xích lô . Mẹ buôn thúng bán bưng tất tưởi ven đô. Thằng con lớn là tôi, khóc thầm trong lớp học.
Ơn cha mẹ không quản gì lao nhọc. Mong cho con cái nên người . Tôi làm gì với mớ chữ nghĩa đây trời ? Tôi tận sức. Rồi cũng tôi thơ thẩn. Ham vui .
Tôi mười sáu, trốn vào Nam lập chí Ở 1954, cùng đoàn người di cư theo Ngô chí sĩ. Tôi thành con bà phước giữa đời. Trại học sinh cho hai bữa cơm tươi. Tôi múa may, bán báo, dậy kèm, tìm học phí. Hai năm liền tôi thi trượt Tú Tài. Tôi hành xác cạo đầu. Tôi kinh sử miệt mài. Vẫn vỏ chuối. Cán mai .
Khoá 14, tôi thi vào Võ Bị. Lính cà nhỏng, cao bồi, thất chí...
Tôi chọn Nhảy Dù, màu mũ đỏ dễ thương. Chọn gian khổ làm đầy thêm nghĩa sống. Xa trường mẹ mới thấy hồn chao động. Nhớ gì đâu từng kỷ niệm buồn vui. Gặp lại đệ huynh trong binh lửa rực trời. Thấy thân thương hết nói .
Tôi đánh giặc, làm thơ. Tôi yêu cuồng sống vội. Nhảy Dù, nhảy đầm, đời khật khưỡng say. Bài thơ đầu tay: “Không Gian Vương Dấu Giầy”. Đời rộng lượng biến tôi thành thi sĩ. Tôi, Hà Huyền Chi, viết không ngưng nghỉ. Thơ ròn như súng tiểu liên. Tôi bập bỗng thơ khi bước giữa bãi mìn . Mê viết lách, tôi nhảy về báo chí. Rồi phát thanh, điện ảnh tận vui. Cũng đóng 8 phim, cũng đạo diễn một thời. Rồi ấn họa cho đủ mùi tạp lục .
Tháng Tư đen với đáy cùng đớn nhục. Tôi giạt sang Mỹ quốc cầu an. Tôi đọa đầy tôi. Thiếu tá lao công. Thi sĩ bồi bàn. Rồi kế toán, công trừ mạt kiếp. Gia tài mang theo là một trời quê hương tưởng tiếc. Tám chuyện dài như chứng tích bi thương. Lệ khô rồi còn nhức nhối đường gươm. Thơ lại bắn từ trái tim nứt rạn. 17 tập thơ vẫn dư sức đạn. Từ thơ là nhạc, ngót 300 phổ bản. Hơn 40 nhạc sĩ góp phần. Kỷ vật cho đời là Lệ Đá, phù vân .
Cám ơn trời ban chút xíu hồng ân. Cám ơn vợ cho nồng nàn tương cảm. Ơn Đồng Minh cho mũi dao lút cán. Cám ơn em cho nước lớn sông dài. Cám ơn đời còn đẹp lúc chiều phai”. HHC
 
Thơ Hà Huyền Chi

 

Không Gian Vương Dấu Giầy

 

Đêm nay trời đổi gió
Nằm đếm sao trên trời
Đời những người Mũ Ỡỏ
Vui nhiều lắm em ơi
 
Từng chuyến, từng chuyến bay
Nói lên nhiều thương nhớ
Dù trĩu nặng vai gầy
Tim run từng nhịp thở
 
Hoa Dù, Hoa Dù nở
Lòng trai, lòng trai say
Trời cao vum vút gió
Xóm làng mờ chân mây
 
Tôi đi tìm tình thương
Trời thương yêu mở ngõ
Hoa áo đẹp mười phương
Máu thù loang Mũ Đỏ
 
Từng chiếc lại từng chiếc
Hoa Dù nở trong mây
Hồn tôi ai chấp cánh
Không gian vương dấu giầy
HHC
 
Lính Cụ Lâm Viên

 

 Đám Võ Bị còn thương trường cũ
Tiểu Bang Xanh, lính cụ họp nhau
Thương quê trắng tóc, bạc râu
Bao năm núi hận, sông sầu chưa vơi
 
Băm Hai khoá, đội trời đạp đất
Dốc hùng tâm sẻ mật phơi gan
Công danh phú quý không màng
Bốn vùng chiến thuật từng chan máu người
 
Bốn Mươi năm,vì đời dựng nước
Bao trai hùng vị quốc vong thân
Bao người lao cải, phong trần
Xương vùi biển lạnh, cát lầm những ai?
 
Anh Hải Quân sánh vai Mũ Đỏ
Biệt Ỡộng Quân, Lôi Hổ, Thần Phong
Mũ Xanh, Thiết Kỵ, Pháo Bông
Bánh Tiêu bám đất biên phòng tử sinh
 
Lính Tiếp Vận, Công Binh, Quân Cụ
Lính Truyền Tin... bà hú hơi nhiều
Thù sâu oán nặng mang theo
Người chung trường mẹ sơn keo một lòng
 
Khác chính kiến cũng không hiềm khích
(Quỷ vô thần thù địch vẫn còn)
Khắc câu “Tự Thắng” trong hồn
Lính già nhưng tấm lòng son chưa già
 
Những họp mặt chan hoà mừng tủi
Cánh tay xa cùng vói thêm gần
Đệ huynh, huynh đệ tương lân
Trái tim Quốc Toản trong thân lưu đầy.
 HHC
 
Bên Lề Tổ Quốc

 

Hành lý ta có cây gươm cùn
Gia tài ta một tấc lòng son
Gươm chưa bén mà đầu sớm bạc
Chí chưa hao mà sức đã mòn

 

Vốn liếng ta là dăm đấu chữ
Chữ rụng rơi và chữ thăng hoa
Ta bươn chải trên dòng cô lữ
Chữ đắng lòng, mực cũng lệ pha
 
Hồn tử sĩ về trong hơi gió
Sóng oan khiên còn trắng biển đông
Ai mài kiếm trong hồn ta đó
Ai quay lưng lòng có thẹn lòng?
 
Mai nằm xuống bên lề Tổ Quốc
Trách nhiệm và danh dự ta đâu
Hận mất nước cách gì nguôi được
Thanh gươm cùn trân gửi đời sau
HHC
 
Ao Thiên Đường
 
Những nấm dù vẫn nở
Đen, đỏ, tím, vạng xanh
Mưa tuôn đằm tháng nhớ
Tươi tốt nỗi buồn anh
 
Trốn vùi trong ảo giác
Trái hạnh nồng em trao
Sau lớp son khuê các
Có dối gian ngọt ngào
 
Trên dòng tình nghiệt ngã
Thừa cuốn xoáy tang thương
Anh với lòng tơi tả
Lết tới ảo thiên đường
HHC
 
Thấy Lửa Binh Xưa Ơ Mắt Người
 
Đánh một vòng đai, núi trắng tươi
Ta trên lưng núi, núi lưng trời
Ta từ tiền kiếp về đây gặp
Những mảnh ân tình thật hiếm hoi
 
Thấy tiếc cho nhau ở thiếu thời
Thấy sông chẩy ngược, lũ buồn vui
Ba đào từng khúc, điêu linh nước
Thấy lửa binh xưa ở mắt người
 
Con dốc Hàng Kèn mù sạn đạo
Lá bàng tơi tả lót đời trai
Mộng con, mộng lớn đều hư ảo
Đứa sớm xuôi tay, đứa lạc loài
 
Truyện cũ nghe hoài còn cảm khái
Rượu mừng chưa cạn đã ngùi say
Chút lòng thiết thạch bâng khuâng mãi
Sông núi dài thêm những cánh tay.
 HHC
 
Ngược Núi

 

Quanh co nghiêng ngả trên đường núi
Đời ngã vào nhau thú dị thường
Trên chuyến xe đò leo dốc mỏi
Lòng xe nồng ấm tóc thương thương
 
Thăm thẳm đường dài, đường bỗng ngắn
Bâng khuâng tình ngỏ giữa tay đan
Nụ cười như thác Gu-ga trắng
Rót mãi vào đêm mộng chín vàng
 
Cung kiếm tung hoành trong bão loạn
Tên bay ngạo nghễ chí tang bồng
Lâm viên ngàn thước mây hùng tráng
Ngó xuống nhân gian đám bụi hồng
 
Nghiêng xuống thùng đàn, nghiêng suối tóc
Nhạc tình thổn thức sáu giây mưa
Tương tư hoa lá ngàn đêm khóc
Mắt đá sầu non buổi tiễn đưa
 
Từ đó nghe hoài tin chiến sự
Cõi lòng xuân nữ rộn binh đao
Người đi Mũ Ỡỏ như hồn chữ
Vút cánh thần ưng chín dậm cao
 
Tuyết lạnh xứ người buồn nẫu ruột
Giở tờ Đa Hiệu lệ tuôn trào
Cố nhân trong ảnh ai ngờ được
Cằn cỗi tang thương giống kẻ nào
 
Lửa lạnh còn ngời trên mắt đục
Thơ bay từng chữ vẫn gai chông
Gã trai Võ Bị hai mầu tóc
Nhớ chuyến xe đò ngược núi không?
 HHC
 
Lãng Du

 

Ngựa cuồng bỏ chiến trường xa
Bao năm khói súng trên da còn nồng
Anh về từ chốn bụi hồng
Bao năm lòng vẫn đầy lòng giáo gươm
 
Em từ gác tía vườn hương
Theo anh bôn tẩu trên đường lãng du
Tập hư mà vần chẳng hư
Vần còn nguyên nét tiểu thư trang đài
 
Học bài, thôi lại trả bài
Ba năm tình nghĩa có hai năm hờn
Tốn tiền mua sắm keo sơn
Qua cơn chinh chiến lại cơn hòa bình
 
Lại thêm thắm thiết ân tình
Lại em đỏ mặt khi anh bắt đền.
HHC
 
Hà Huyền Chi và bằng hữu: (Từ trái sang phải: Hàng trước với Du Tử Lê, Cao Tiêu, Ngọc Hoài Phương
Hàng sau với Nguyễn Đạt Thịnh, Nguyễn Phan và Hà Huyền Chi
 
 
 
Phỏng Vấn Nhà Thơ Hà Huyền Chi
( Tóm lược cuộc phỏng vấn của Trần Duy Việt trên tập san Hồn Việt thực hiện với lời bảy tỏ của Hà Huyền Chi)
- Vào lính lúc 18 tuổi đời, và rã ngũ sau 18 tuổi lính. Đơn vị đầu tiên là Thiếu úy Trung Đội trưởng thuộc Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Đơn vị cuối cùng là Thiếu Tá Trưởng phòng Ấn Họa Cục Tâm Lý Chiến.
- Khi ở Nhẩy Dù, viết nhiều truyện ngắn và thơ. Có bài thường xuyên trên báo quân đội, nên anh nhẩy vào nghề báo chí. Nhẩy vào điện ảnh như một thử thách mình. Có lúc anh làm phụ tá trưởng phòng. Điện ảnh cục Tâm Lý Chiến. Làm Đạo diễn, trong Đạo diễn đoàn thuộc Nha Điện Ảnh của Bộ Thông Tin.
- Vốn mê thơ và tập làm thơ từ lúc 15 tuổi. Bởi cũng như mọi người, nghĩ rằng làm thơ là lối dễ nhất để đi vào thế giới của văn chương.
- Tính đến tháng 2 năm 2001 thì anh có 238 bản nhạc đã được phổ từ thơ anh, bởi 37 nhạc sĩ. Người phổ cho anh nhiều nhất là nhạc sĩ Mai Anh Việt, với 65 bài.
- Sự tương cảm đóng vai trò quan trọng hơn. Thí dụ như với nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, thì sau 20 bản nhạc phổ thơ HHC, các anh chỉ mới gặp nhau lần đầu gần đây thôi. Nhiều nhạc sĩ khác chưa từng quen biết với anh.
- Khởi đầu thì là sự ngẫu nhiên tình cờ. Sau này thì do kiến thức học được từ sự tương quan giữa âm sắc giữ thơ và nhạc. Biết tìm cho thơ mình có nhạc tính nhiều hơn. Thơ đôi khi đẹp bởi góc cạnh sần sùi, nhanh, mạnh, gọn. Nhưng vào nhạc thì đôi khi cần chuốt cho thanh tao, và mướt hơn.
- Trước hết, chúng ta có tình trạng lạm phát số người muốn tự khoác cho mình chiếc áo thi sĩ, nhạc sĩ. Nhiều người bỏ tiền tự in thơ , nhạc mà chưa nắm vững được kỹ thuật căn bản, nhập môn. Của niêm luật, vần điệu, thanh điệu, hợp âm và phối âm. Tình trạng trăm hoa đua nở này không có lợi cho sự tiến hóa chung của 2 bộ môn nghệ thuật này. Nếu không muốn nói là có hại.
Thử tưởng tượng nhé: Trên bất kỳ một sân khấu nào, ai cũng có quyền nhẩy lên ca, ngâm bạt mạng, thì sớm muộn gì ta cũng giết chết các sinh hoạt này.
Là một người sưu tập về thơ (collection, chưa là selection) mà không cách gì mua được đầy đủ những thi tập ấn hành ở Hải ngoại. (Có thể nói là mỗi tuần đều có sách mới ra lò.) Nghĩ là các CD nhạc cũng ở cùng mức độ lạm phát, tràn ngập thị trường vậy thôi.
Trận giặc hạ giá của các CD sản xuất từ VN, đã tàn phá thị trường ca, ngâm Hải Ngoại như mọi người đều biết. Rất may là cơn lốc ấy đã tan nhanh. Nhưng vẫn là, sau cơn mưa trời vẫn tối.
Sự làm giá quá đáng của giới nghệ sĩ trình diễn đang giết chết giới sản xuất. Giống như giới Tài tử điện ảnh Mỹ đòi thù lao vài chục triệu Đô cho mỗi cuốn phim. Khiến hàng loạt các rạp chiếu phim phá sản, vì giá vé lên cao.
Cũng thế, ca sĩ Hải ngoại đòi thù lao từ 3, tới 5 ngàn Đô cho một bài hát thâu âm. Khiến giá bán của 1 CD quá cao so với giá CD sản xuất từ VN vẫn là một bế tắc, nan giải.
Sau nữa, chúng ta đã tự sát khi gán ghép các bản nhạc tiền chiến vào chung 1 CD với nhạc thính phòng, hiện đại. Nhạc sến đứng chung với nhạc thính phòng. Anh không loại bỏ giá trị của các loại nhạc xưa. Giá trị của lưu niệm, hoài cảm, nếu chúng được xếp riêng vào những CD cùng thể điệu, hay thể loại.
HHC

 

 
 

Thơ:

 

Hà Huyền Chi

Kỹ Thuật:

 

Hà Trinh Tiết

Web Design:

 

Hà Phương Hoài
Hoàng Vân

     
 

Thư từ liên lạc hahuyenchi@aol.com
Copyright © 2003 Hà Huyền Chi
Last modified: August 14, 2005