|
Chén Văn Chương
Thù Tạc Với
Hoàng Huy
Hạc
Bút Ông
Trên đời thường
có những sự t́nh cờ rất ngộ. Bài hát
ẩn danh mà văn hữu Nguyên Nhi từng hát cho tôi
nghe qua viễn thoại một lần, th́ không lâu sau
đó, tôi t́nh cờ có được cuốn băng
ấy. Cả Nguyên Nhi và tôi đều mù mờ
về tên bài hát và tác giả, nhưng sau khi tôi đem
bài ấy vào mục Chén Văn Chương th́
lập tức mọi việc đều sáng tỏ qua
đáp ứng của độc giả và văn
hữu.
Hoàng Huy tiên sinh là người
cho tôi những giải đáp cặn kẽ nhất,
thuyết phục nhất rằng bài hát có tên là Phượng
Hồng của nhạc sĩ Vũ Hoàng, phổ thơ
của Đỗ Trung Quân. T́nh cờ nữa, là tôi có luôn
được nguyên bản bài thơ này qua giọng
ngâm của Thúy Vinh.
Thực t́nh mà nói, tôi
vốn không có hứng thú với những sáng tác
của các tác giả trong nước. Trên diễn
đàn này, tôi chỉ trưng dẫn những tài
liệu thi ca nhằm đả kích những tác
giả dùng ngọn bút họ như thang nhằm ca
tụng chế độ CS và cũng nhằm ve văn t́nh
cảm của những khúc ruột ngàn dặm. Như
Hoàng Cầm, Trịnh Công Sơn..., với những sáng
tác ngụy nghĩa, hàng hai, biện giải theo
chiều nào cũng có lợi cho riêng họ. Thế nên
Phượng Hồng được nhắc đến
như một t́nh cờ ngẫu nhiên. (Và được
nhắc lại cũng là chuyện chẳng đặng
đừng.) Mong quư độc giả lượng
thứ cho.
Có công bằng không, khi
những sáng tác của Từ Công Phụng, Vũ Thành
An, Hà Thúc Sinh... vẫn không được phép công
khai tŕnh diễn trong nước? Trong khi ấy, chúng
ta vẫn độ lượng bao dung với Văn
Cao, Lê Thương, Quang Dũng, Hữu Loan trên
khắp văn đàn hải ngoại, và miền Nam
Việt Nam trước đây?
Tôi đồng ư với Hoàng
Huy tiên sinh về cái chính danh cần có của
những người làm văn hóa. Người ta có
thể muối mặt sao chép các tác phẩm của
những nhà văn CS như Dương Thu Hương,
Lê Thiệp, Trần Văn Trà... cho mục đích thương
mại. Nhưng người ta thật không nên ỡm
ờ, giả vờ quên ghi danh tánh các tác giả phía
bên kia khi phổ biến những tác phẩm của
họ như nhà xuất bản Thế Hệ Trẻ và
Trung Tâm Thúy Nga Paris đă từng làm. Sự dối
gian, manh tâm ấy, rất đáng cho chúng ta xấu
hổ lây. Người làm “văn hóa lấy ăn”
cũng nên hành xử khác với những phường
đạo tặc. Chúng ta sẽ xấu hổ biết
bao, nếu như phe bên kia trưng dẫn những
bằng cớ đạo văn ấy trước công
luận?
Trở lại với Phượng
Hồng, nguyên tác bài thơ của Đỗ Trung Quân có
nhiều chỗ thô thiển vụng về. Bài thơ
ấy chỉ thực thơ sau những cắt xén, thêm
bớt của nhạc sĩ Vũ Hoàng. Phần mở
đầu rất tốt, không có khác biệt:
“Những
chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng/Em
chở mùa hè của tôi đi đâu?/ Chùm phượng
vĩ em cầm là tuổi tôi 18/ Thuở chẳng ai hay
thầm lặng mối t́nh đầu”
Sau đó, thơ của Đỗ
Trung Quân bắt đầu gồ ghề, thô nhám. Có
nhiều chỗ ngô nghê, thiếu âm vận và thừa
thăi một cách rất đáng cho người đọc
ngạc nhiên. (Những chữ in đậm là nhấn
mạnh của người viết):
“Mối t́nh đầu
của tôi có ǵ?/ Chỉ
một cơn mưa bay ngoài cửa lớp. Là
áo người trắng cả giấc ngủ mê/ là bài
thơ cứ c̣n hoài trong cặp/ Giữa giờ chơi
mang đến lại mang về/
Mối
t́nh đầu của tôi/ Là anh chàng tội nghiệp/
mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi
nhớ vào cây/ Người con gái mùa sau biết có c̣n
gặp lại/ Ngày khai trường áo lụa gió thu
bay/
Mối
t́nh đầu của tôi có ǵ?/ Chỉ
là cây đàn nhỏ rất vu vơ/ Nhờ bài hát nói
dùm/ Ai cũng hiểu chỉ một người không
hiểu/ Nên có một gă khờ ngọng nghịu măi
thành câm/
Những chiếc giỏ xe
trưa nay chở đầy hoa phượng/ Em hái mùa
hè trên cây/ Chở kỷ niệm về nhà/ Em chở
mùa hè đi qua/ C̣n tôi đứng lại/ Ngơ
ngẩn cười tà áo lụa nào sa?”
Không cần phải
được nghe bài hát với cung bậc và
tiết tấu tươi trẻ dịu dàng của Vũ
Hoàng, người ta cũng thấy rơ được
sự khác biệt lớn lao giữa Phượng
Hồng thơ, và Phượng Hồng trong lời
nhạc:
“Mối t́nh đầu
của tôi/ Là cơn mưa giăng giăng ngoài
cửa lớp/ Là áo ai bay trắng cả giấc mơ/
Là bài thơ c̣n hoài trong vở/ Những giờ chơi
mang đến lại mang về”
Ta thấy rơ sự thô
xảm và gượng gạo ở câu : “Là áo người
trắng cả giấc ngủ mê” mà Đỗ Trung Quân
cần dàn dựng cho hợp với âm vận “mang
về” ở câu phía dưới.
Và “Mùa hè đến trường
khắc nỗi nhớ trên cây” trong lời nhạc
đă có khoảng cách ngàn dặm với lời thơ
nguyên tác: “Là anh chàng tội nghiệp/Mùa hạ leo
cổng trường khắc nỗi nhớ vào cây”.
Cũng
thế, lời nhạc đă bay bổng trên chín
tầng cao: “Mối t́nh đầu của tôi/Nhờ
cây đàn buông tiếng xa xôi/ Ai cũng hiểu,
chỉ một người không hiểu/Nên có một
gă khờ ngọng nghịu đứng làm thơ.”
So với lời thơ c̣n
thấp tè dưới chân: “Mối t́nh đầu
của tôi có ǵ?/ Chỉ
một cây đàn nhỏ rất vu vơ/ Nhờ bài hát
nói dùm/ Ai cũng hiểu, chỉ một người
không hiểu/ Nên có một gă khờ ngọng
nghịu măi thành câm”.
Qua những so sánh trên, chúng
ta thấy rằng sự thành tựu tốt đẹp
của Phượng Hồng là một cơ duyên may
mắn giữa Vũ Hoàng và Đỗ Trung Quân. Nhà thơ
họ Đỗ đă có những ư tưởng và
diễn đạt rất mới, đẹp và dễ
thương, khiến Vũ Hoàng đă có cơ
hội khai triển thành bản nhạc t́nh tuyệt
vời thế đó. Hiển nhiên là Đỗ Trung Quân
cũng là một nhà thơ có bản sắc riêng.
Thế nên Hạc Bút Ông này
không rơ Hoàng Huy tiên sinh có bằng chứng ǵ khi nói là
Đỗ Trung Quân vốn mê thơ Nguyên Sa, và hầu như
đă ảnh hưởng Nguyên Sa từ tiềm
thức?
Nói như vậy có oan
uổng cho Đỗ Trung Quân không chứ? Nơi hai đoản
khúc thơ của Nguyên Sa được tiên sinh đem
ra dẫn chứng vốn đă có điều bất
ổn và nghi vấn từ nguyên thủy.
Có người cho rằng
Nguyên Sa là một nhà thơ t́nh rất khá. Cũng có
người cho rằng thơ của Nguyên Sa chỉ
ở vào mức trung b́nh, kéo thấp xuống một
tư th́ thành nhà thơ sến. Bài áo lụa Hà Đông mà
Nguyên Sa khoác vào thơ ở những bước đầu,
dường như là rất giống với tà áo
lụa trong thơ Hoàng Anh Tuấn trước đó.
“Nắng Sài G̣n anh đi mà
chợt mát/Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông” (Áo
Lụa Hà Đông, Nguyên Sa)
Thắc mắc trên vẫn
c̣n là một nghi vấn văn học chưa có
giải đáp thỏa đáng.
Cũng trước Nguyên Sa
hàng thế kỷ th́ Lư Bạch đă từng phóng bút
đề thơ tặng nàng Dương Quư Phi: “Vân
tưởng y thường, hoa tưởng dung”.
Thế nên Nguyên Sa chưa là người đầu tiên
ví von áo người đẹp như mây bay gió
cuốn. Ta thử nh́n lại đoạn thơ Nguyên
Sa trích dẫn xem sao:
“Có phải em mang trên áo
bay/ Hai phần gió thổi một phần mây/ Hay là em
gói mây trong áo/ Rồi thở cho làn áo trắng
bay”...( Tương Tư-
Nguyên Sa)
“Mang trên áo bay” là
một cụm từ tầm ruồng, thiếu chính xác.
Nó có thể được hiểu như một
chiếc áo phi hành cho những người lái máy bay.
Hai câu sau chỉ là một vớ vẩn lập
lại làm duyên một cách hơi vô duyên. Câu cuối
th́ thơ Nguyên Sa c̣n thê thảm hơn nữa.
“Rồi thở cho làn áo trắng bay.” Chữ
thở thật thô, thật ngớ ngẩn và chữ
bay điệp vận thật nghèo nàn tội
nghiệp. Riêng với đoạn thơ này th́
chẳng cần phải tŕ kéo, tự nó đă
thấp lè tè. Nó đă mang nhăn hiệu của thơ
sến rồi.
“Chỗ ta ngồi, ngàn xưa
người đă/ Đâu có ǵ mới lạ hôm nay...”
(Vũng lầy, Hà Huyền Chi), ngay cả hai câu thơ
này, nhà thơ Hà Huyền Chi cũng đă lượm
mót từ cổ văn. Thế nên, hầu hết chúng
ta chỉ là lập lại, chế biến, làm mới
thêm những diễn đạt đă có tự cổ
thời. Do đó, tôi thật t́nh không đồng ư
với Hoàng Huy tiên sinh về h́nh ảnh “Áo lụa
gió thu bay” trong thơ Đỗ Trung Quân là có nét
giống như thơ Lư Bạch, hay Nguyên Sa, hoặc
của bất cứ ai khác.
Xin thành thật cám ơn chén
thù chén tạc của Hoàng huynh và quư độc
giả.
Hạc Bút Ông
Jan 1998
|