| Home  | Tiểu Sử HHC | Thả Gió Bay Đi | Mục Lục | Từ Thơ Đến Nhạc |
HHC - Nhánh Nhỏ Giao Cảm | Thơ Ghé 1 Chân | Hot Links  |

| English | Audio & Video | Dịch Mậu Binh | Thơ Chuyển Ngữ | Suối Thơ |
|
Góc Thơ HHCTác Phẩm HHC Thơ Mậu Binh |  Trang Đặc Biệt | Thư Tín  |


 HHC

 
 
Ha Huyen Chi
 Mau Binh
Số
Phác Thảo Bộ Phim Văn Sử
Con Tiên Cháu Rồng
Mời vào trang

Mục Lục Thơ Mậu Binh ABC

Mục Lục Thơ Mậu Binh Theo Từng Tập

THƠ T̀NH CHỌN LỌC
 
NGUYỄN HOÀI THƯƠNG SƯU TẦM VÀ TUYỂN CHỌN
 
NGƯỜI ĐỌC: HẠC BÚT ÔNG
———————————————————————————————————
(Tiếp theo và dứt iểm)
 
LƯU TRỌNG LƯ
 
Họ Lưu được chọn 7 bài. Không rơ v́ vô ư hay hữu t́nh mà hai thi nô của Đảng được ưu đăi hơn người (Xuân Diệu 9 bài). Trong khi những thi sĩ thời danh khác như Thanh Tâm Tuyền 1, Viên Linh 1, Du Tử Lê 1, Cung Trầm Tưởng 1, Phạm Thiên Thư 2, Hoàng Cầm 1, Hữu Loan 1 ( Hữu Loan c̣n không có tên trong phần mục lục luôn. Bài Mầu Tím Hoa Sim số 119 được bán cái cho Quang Dũng)!!!...
 
Tác giả của Tiếng Thu đă từng nhúng thơ y vào máu người nông dân qua Cải Cách Ruộng Đất,1953,và nhúng nhân cách y xuống bùn đen của hư vinh:
 
...” Cố bần nông quật ngă,đè lên
Đấu cho tan nát mặt lỳ
Đấu cho mất xác, của về tay ta.”
 
(Lưu Trọng Lư)
 
(Theo Nguyễn Hữu Thống, tuần báo VN Mới số 153.)
 
Quật ngă th́ được rồi, c̣n đè lên th́ kỳ thấy mẹ. Tưởng tượng đi, nữ địa chủ bị dăm bẩy thằng bần cố răng đen mă tấu nó bề hội đồng ngay giữa đấu trường th́ đâu có thua ǵ hải tặc Thái Lan chứ? Mặt lỳ, cũng là chữ khó hiểu. Người lương dân (đa số) khi không bị lôi ra đấu trường sắt máu cỡ đó, th́ dẫu có mặt dầy như Bác cũng khó mà lỳ nổi. Trừ phi là Bác và Đảng cố t́nh gán ghép cho họ những cái tội trời đất chẳng dung tha. Tên thi nô này đă vô t́nh chửi cha Bác Đảng của y về những vu vạ trắng trợn đến nỗi kẻ nào bị đấu cũng đành chọn cái chết sướng hơn.
 
Đấu cho mất xác, là một từ thô bạo phi nhân khác. Mất xác, có
hai ư:
-Tra tấn tới banh da sẻ thịt, tới chết chẳng toàn thây.
-Thủ tiêu nạn nhân, chơi ṃ tôm. Dưới từ ngữ quỷ mị thông thường của Đảng là: giải giao, chuyển trại, điều lên trên.
 
Chữ “của về tay ta” đă nói lên chính sách bất nhân của Bác và Đảng. Th́ ra Đảng chỉ là đảng cướp. Ăn cướp là chủ đích, là cứu cánh, đấu tố là phương tiện.
 
Chỉ trong có mấy câu vè tuyên truyền xách động bài cḥi như vậy mà Lưu Trọng Lư đă vấp phạm chừng ấy khuyết điểm. Ta không coi rẻ y sao đặng?
 
Nh́n lại những bài thơ t́nh của y được chọn lọc nhé. Họ Lưu nổi tiếng qua bài Tiếng Thu. Người ta thường bị huyễn cảm qua tiết điệu du dương bởi nhạc phổ Lê Thương:
 
“Em không nghe muà thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
 
Em không nghe rạo rực
H́nh ảnh kẻ chinh phu
Trong ḷng người cô phụ?
 
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
 
(Lưu Trọng Lư,trang 340 sd)
 
Thơ chủ yếu ở cô đọng, hàm xúc. Cao hơn nữa, ở bậc thượng thừa, là “ư tại ngôn ngoại”. Thế nên, người làm thơ có tŕnh độ, thường gói ghém sự diễn đạt tư tưởng ở mỗi câu riêng biệt. Ít ra th́ cũng không phải dùng tới 3,4 câu mới nói được một ư. Ở Tiếng Thu th́ sự yếu kém đă thể hiện rơ ràng. Cả bài thơ này chỉ nói ược 3 ư. Mỗi câu trong 3 đoạn thơ trên cần thiết phải dựa dẫm vào nhau đểẩ đứng vững. Tay ngang như T.T. KH. cũng chỉ cần dùng tới 2 câu:
 
...” Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy,cho nên vẫn hững hờ”...
 
(T.T.KH, Hai Sắc Hoa Ti Gôn)
 
“Em không nghe” là một h́nh thái xác định, có tính cách dè bỉu, trách móc em cà chua, em vô tâm. Ở thể nghi vấn, tối thiểu họ Lưu cũng phải biết dùng chữ: “Em nghe không” mới thanh lịch chứ? Đảo ngữ như thế, ta có thể tránh bớt cái dấu chấm hỏi cuối câu 2.( Hạc Bút này rất ghét phải chấm phết trong thơ. Và chỉ dùng khi thật cần thiết mà thôi)
 
Cả đoạn hai là một lối tán tỉnh, tỏ t́nh thô bạo. Giống như khi người ta mơn trớn người t́nh bằng một chiếc lông gà, th́ họ Lưu đă dùng cả một con gà. Chữ rạo rực là bằng chứng của sự thô bạo ấy. Người cô phụ khi nhớ về người chinh chiến miền xa th́ chỉ ở h́nh thái bâng khuâng, quặn thắt, thiết tha. Chữ rạo rực hàm ư thèm muốn nhục thể, do một trợ hứng từ ngoại cảnh trước mắt. Hơn nữa Tiếng Thu được viết vào thời điểm 1939, thời chinh phu khố xanh, khố đỏ này th́ “em không nghe” thấy cái rạo rực kia cũng đâu có ǵ đáng trách?
 
...” Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.”
 
Cái h́nh ảnh này đă làm mờ, lấn lướt đi, những sai sót, những cái vô duyên trong toàn bài. Nếu không gắn hai câu này vào cuối bài th́ làm sao giải thích đựơc tiếng lá thu “kêu” xào xạc? Bởi lá thu chưa hẳn là lá khô.
 
Những bài khác cuả họ Lưu trong tuyển tập này cũng không khá hơn ǵ mấy:
 
Khi Thu Rụng Lá
 
“Em có bao giờ nói với anh
Những câu t́nh tứ thuở ngày xanh,
Khi thu rụng lá bên hè vắng,
Tiếng sáo ngân xa vẳng trước mành.
 
Em có bao giờ nghĩ tới anh
Khi tay vịn rũ lá trên cành?
Cười chim, cợt gió nào đâu biết:
Chua chát ḷng anh, biết mấy t́nh?
 
Ḷng anh như nước hồ thu lạnh
Quạnh quẽ đêm soi bóng nguyệt tà...
Ngày tháng,anh mong chầm chậm lại;
Hững hờ em mặc tháng ngày qua...
 
Mùa Đông đến đón ở bên sông,
Vội vă cô em đi lấy chồng;
Em có nhớ chăng ngày hạ thắm:
T́nh ta lưu luyến một bên ḷng?
 
(LTL, trang 340 sd)
 
Đoạn đầu rất b́nh thường, nếu không muốn nói là tầm thường. Câu 4 không chỉnh ở chữ “ngân xa vẳng” không hợp lư. Phải biết viết là Tiếng sáo xa ngân vẳng trước mành” mới đúng.
 
Lá gió cành chim là h́nh ảnh dùng cho người đàn ông phóng đăng, trăng hoa. Họ Lưu đem gán cho em th́ thê thảm quá . Em của họ Lưu, đi khách tưng bừng như thế th́ báu ǵ mà thơ với thẩn, t́nh với tứ chứ? Em vịn cành nào th́ lá rũ tiêu điều. Chưa tởn sao mà cuối bài c̣n “lưu luyến một bên ḷng” làm ǵ nhỉ?
 
Câu 10 mạch thơ không chỉnh ở “quạnh quẽ đêm soi bóng (bởi) nguyệt tà”. Nên viết là “quạnh quẽ đêm khi ánh nguyệt tà” sẽ thoát ư hơn.
 
Đoạn cuối họ Lưu hụt hơi thấy rơ. Hắn bắt chước Xuân Diệu ở lối viết ngây ngô tưởng là làm mới thơ. “Muà Đông đến đón” thế khỉ nào được. Mới ở muà thu anh c̣n than là “Hững hờ, em mặc tháng ngày qua.” Sao tới mùa đông anh đă đảo lưỡi: “Vội vă cô em đi lấy chồng” được nhỉ? Anh lại chơi một quả hồi tưởng ngớ ngẩn về một hạ thắm nào đó, khiến thời gian lộn mèo lung tung, có đáng không? Anh c̣n can tội chấm phẩy loạn cào cào chẳng ra sao cả.
 
Bài Một Muà Đông là kết hợp loạn xà bần của các thể thơ, 5,6,7,8 chữ và song thất lục bát. Sau đoạn thơ đầu là một diễn tả lung tung, cà lăm với “buồn vời vợi” “nói không cùng” lập tới lập lui.
 
...” Em ngồi trong song cửa
Anh đứng dựa tường hoa,
Nh́n nhau mà lệ ứa,
Mỗi ngày một cách xa.
 
Đây là giải Ngân Hà,
Anh là chim Ô thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Mỗi đêm một lần qua...”
 
(Một Mùa Đông,trang 341,sd)
 
Con gái nhà lành đâu có ngồi hoài bên song cửa để bầy hàng vậy cà? Tường hoa, là tường lửng, dùng ngăn cách khu vườn với hành lang. Anh đứng dựa tường hoa của nhà anh th́ mần răng “nh́n nhau mà lệ ứa” được nhỉ? Nếu anh dám đứng dựa tường hoa nhà nàng th́ nh́n nhau làm khỉ ǵ. Cầm nhau cũng c̣n được kia mà. Anh ngớ ngẩn thấy bà đi ấy. Cái tường hoa ấy biết tự di động hay sao mà anh rên rỉ rằng mỗi ngày một cách xa?
 
Đoạn sau anh rơi vào sai lầm nhiều hơn. Anh đếch nhớ là bầy chim Ô thước chỉ làm cái công việc bắc cầu của binh chủng Công binh kiến tạo cho người khác qua sông. Anh đă là chim rồi, anh cứ việc vù qua hà rầm. Anh bắc cây cầu nguyện ước làm con mẹ ǵ nhỉ? Anh gian dâm thấy rơ. Anh chỉ ŕnh qua vào ban đêm thôi. Anh phe lờ tiết hạnh của người nữ ấy. Anh đáng bị bắn bỏ.Anh đáng bị đánh cho “tan nát mặt lỳ”.
 
...” Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân?
 
Ai bảo em là giai nhân
Cho lệ tràn đêm xuân?
Cho t́nh tràn trước ngơ?
Cho mộng tràn gối chăn?
 
(Một Mùa Đông,trang 342,sd)
 
Chữ vướng víu thô lậu quá . Ở cái nghĩa là em chèo kéo lằng nhằng quá khiến anh dứt không ra. Nó không thay thế được chữ vương vấn. Họ Lưu lại quên béng rằng anh đang làm thơ ở mùa Đông rồi. Thế nên “lệ tràn đêm Xuân” là lạc đề, dù với tính ẩn dụ. “T́nh tràn trước ngơ” có vẻ mari sến quá . Không xứng với giai nhân kín cổng cao tường.” Mộng tràn gối chăn” mang nhiều dâm tính, khiến giảm giá quá chừng. Không biết ở đây th́ chàng hay nàng mắc chứng mộng tinh?
 
Anh coi nàng “vứơng víu” như cục nợ, rồi cuối cùng anh cũng túm được cái “Em chỉ là người em gái thôi”. Rồi anh lừng lững bỏ đi không duyên cớ và anh than thở đủ điều:
 
...” Ngày một ngày hai cách biệt nhau
Chẳng được cùng em kê gối sầu,”
 
...” Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em vẫn đùa nô uống rượu say”...
 
(Một Mùa Đông,trang 342,sd)
 
Anh lươn lẹo quá, anh muốn ta hiểu thế nào đây? Anh kẹt vận hay anh kẹt đạn nên gặp nhau chỉ thêm phiền năo? Vậy mà mới hai ngày không gặp, anh đă than tiếc. Anh có tài dùng chữ thô bạo:“kê gối sầu” biến giai nhân thành gái đứng đường. Đă ngày, th́ thôi “hôm” đi được hông? Thấy chưa, hôm tiễn biệt, em vẫn nô đùa vui như tết mà. Anh lại sảng khi khuyên em đừng buồn phiền, tiếc nuối ǵ cả:
 
...” Hăy xếp lại muôn vàn ân ái
Đừng trách nhau, đừng ái ngại nhau,
Thuyền yêu không ghé bến sầu
Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng”...
 
(Một Mùa Đông,trang 343)
 
Sau cái muôn vàn ân ái tả tơi hoa lá, anh khuyên người em gái nên xếp chúng vào rương kỷ niệm. Đừng trách cứ ǵ nhau. Hai câu đầu anh điệp vận đó. H́nh như anh thích nhét đại chữ sầu một cách vô tội vạ. Anh mới than rằng “chẳng được cùng em kê gối sầu”, ở đoạn trên, th́ ngay đoạn dưới anh đă chơi ngược lại:“Thuyền yêu không ghé bến sầu” là nghĩa làm sao? Câu cuối,”đêm thiếu phụ” rất đặng,nhưng “bên lầu không trăng” th́ xổ toẹt. Ép vần và phi lư ở thể cách ví von lăng xẹt. Đêm thiếu phụ mà tối thui, hoặc chập chờn đuốc hoa cũng vui chán, đâu cần đến con trăng tỏ trăng mờ nào.
 
Nói thật nhé, ta chán anh lắm rồi. Để khi nào kiếm được chỗ kê cái gối sầu thật ngon lành, rồi thủng thẳng ta sẽ tiếp tục “quật ngă, đè lên” tài thơ và phẩm cách của anh sau.
 
Xin trở lại với sưu tuyển gia Nguyễn Hoài Thương. Ông này can đảm thực t́nh, chỉ c̣n thiếu Tố Hữu nữa là ông đă khiêng vào tuyển tập đủ mặt văn nô của Đảng. Ông, sớm không tuyển, muộn không tuyển, lại nhè ngay cái thời buổi cỏ đuôi chó đang được mùa này mà tuyển vào hàng hàng lớp lớp trăm con hoà hợp là có ư ǵ chăng? Sao đúng lúc quá vậy?
 
Ông chưa nên mừng vội, v́ rất nhiều bài thơ rởm của những “nhà thơ tên tuổi” và rất nhiều tài thơ dở ẹc trong tập này, ta chưa có th́ giờ đưa lên bàn giải phẫu thẩm mỹ, chỉnh h́nh. Lúc này. Ông gắng chờ xem. Ta đành tạm dứt điểm ở đây.
 
Là người sưu tuyển, ông cũng nên chịu khó học hỏi thêm. Ông đă gây khó dễ cho ta nhiều quá ở cách tŕnh bầy luộm thuộm, khiến ta, hầu như vô phương t́m biết thiếu xót những tác giả nào? Ông cũng cần đọc nhiều hơn nữa để nhật tu.Những nhà thơ sáng giá được độc giả mến mộ, từng phổ biến sá ng tác họ trên các tạp chí như:Thi Sĩ Nguyễn Tà Cúc, Hồ Ông... vv... đă vắng mặt ở tuyển tập này.
 
Sai lầm ǵ cũng có thể sửa chữa, với thiện chí của con người hướng thiện. Làm người mới khó, làm công việc sưu tầm văn chương một cách lương thiện, tưởng cũng không khó lắm đâu, thưa ông.
 
HẠC BÚT ÔNG
26-12-93
 
 
Về trang đầu  Trang Trước
 
 
 

Thơ:

 

Hà Huyền Chi

Kỹ Thuật:

 

Hà Trinh Tiết

Web Design:

 

Hà Phương Hoài
Hoàng Vân

     
 

Thư từ liên lạc hahuyenchi@aol.com
Copyright © 2003 Hà Huyền Chi
Last modified: August 14, 2005